Nhiều người thường có thói quen cắt giảm muối ăn để bảo vệ huyết áp nhưng lại ít khi để ý đến lượng rau củ quả bổ sung hàng ngày. Sự chú ý thường chỉ dồn vào lượng natri nạp vào cơ thể mà bỏ quên một yếu tố đối trọng quan trọng không kém là kali. Liệu chỉ ăn nhạt có đủ để bảo vệ hệ tim mạch khỏe mạnh?

Các bằng chứng khoa học cho thấy tương quan cân bằng giữa natri và kali đóng vai trò then chốt hơn nhiều so với việc chỉ theo dõi đơn lẻ một chất [1], [2], [3]. Việc giữ tỷ lệ natri/kali ở mức thấp, đồng thời tăng cường kali để đối trọng với natri, là chiến lược mang lại lợi ích rõ rệt trong việc giảm thiểu nguy cơ mắc biến cố tim mạch và tử vong [1], [3].

Cơ chế tác động cân bằng giữa natri và kali

Natri và kali là hai chất dinh dưỡng thiết yếu giữ các chức năng sinh lý cơ bản của cơ thể, bao gồm duy trì thể tích huyết tương, áp suất thẩm thấu và điện thế màng tế bào khi nghỉ [4]. Mặc dù có cơ chế hoạt động đối kháng nhau, hai khoáng chất này liên kết chặt chẽ với huyết áp, chức năng thận và sức khỏe tim mạch [4].

Dữ liệu quan sát và thực nghiệm cho thấy natri có mối liên hệ độc lập, thuận chiều với huyết áp, đặc biệt rõ rệt ở những người đã bị tăng huyết áp [5]. Ngược lại, việc dung nạp kali lại liên quan nghịch chiều đến huyết áp [5]. Huyết áp cao là yếu tố dự báo mạnh mẽ của bệnh tim mạch, đặc biệt là đột quỵ, nên sự mất cân bằng trong việc nạp natri và kali rất dễ dẫn đến gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do tim mạch [5].

Bằng chứng từ các nghiên cứu quốc tế lớn

Các nhà khoa học tại Mỹ đã phân tích dữ liệu thuần tập tiến cứu từ khảo sát NHANES III với 12.267 người trưởng thành, theo dõi trung bình 14,8 năm và ghi nhận 2.270 ca tử vong, trong đó có 825 ca do tim mạch và 443 ca do bệnh tim thiếu máu cục bộ [1]. Kết quả cho thấy khi tăng mỗi 1.000 mg natri mỗi ngày, nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân tăng lên (HR = 1,20; KTC 95%: 1,03-1,41) [1]. Ngược lại, tăng mỗi 1.000 mg kali mỗi ngày giúp giảm nguy cơ tử vong (HR = 0,80; KTC 95%: 0,67-0,94) [1]. Đáng chú ý, khi so sánh nhóm có tỷ lệ natri/kali cao nhất với nhóm thấp nhất, nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân tăng 46% (HR = 1,46; KTC 95%: 1,27-1,67), tử vong do tim mạch tăng 46% (HR = 1,46; KTC 95%: 1,11-1,92), và tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ tăng hơn gấp đôi (HR = 2,15; KTC 95%: 1,48-3,12) [1].

Nghiên cứu thuần tập quy mô lớn tại Mỹ thuộc chương trình NIH-AARP Diet and Health Study công bố năm 2024 theo dõi 237.036 nam giới và 179.068 phụ nữ trong 6.009.748 người-năm, ghi nhận 77.614 ca tử vong [2]. Kết quả chỉ ra lượng natri cao từ 2.000 mg/ngày trở lên làm tăng nguy cơ tử vong chung và tử vong do tim mạch (nhóm tiêu thụ cao nhất so với thấp nhất có HR lần lượt là 1,06 ở nam, 1,10 ở nữ đối với tử vong chung; 1,07 ở nam và 1,21 ở nữ đối với tử vong tim mạch) [2]. Lượng kali cao hơn và tỷ lệ natri/kali thấp hơn liên quan đến việc giảm nguy cơ tử vong, trong đó mối liên quan này thể hiện mạnh mẽ hơn ở nữ giới (so sánh nhóm ngũ phân vị cao nhất so với thấp nhất, HR của tỷ lệ natri/kali với tử vong chung là 1,09 ở nam và 1,23 ở nữ) [2].

Nghiên cứu thuần tập JACC tại Nhật Bản công bố năm 2008 theo dõi 58.730 người (23.119 nam và 35.611 nữ) từ 40 đến 79 tuổi trong 745.161 người-năm [6]. Lượng natri cao làm tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ toàn bộ (HR nhóm cao nhất so với thấp nhất là 1,55; KTC 95%: 1,21-2,00), đột quỵ thiếu máu cục bộ (HR = 2,04; KTC 95%: 1,41-2,94) và bệnh tim mạch toàn bộ (HR = 1,42; KTC 95%: 1,20-1,69) [6]. Lượng kali nạp vào liên quan nghịch với tử vong do bệnh tim mạch toàn bộ (HR = 0,73; KTC 95%: 0,59-0,92) và bệnh mạch vành (HR = 0,65; KTC 95%: 0,39-1,06), với mối liên quan rõ rệt hơn ở phụ nữ [6].

Một nghiên cứu thuần tập khác ở Nhật Bản công bố năm 2024 khảo sát 83.048 người trung niên (45-74 tuổi) trong 1.587.901 người-năm, ghi nhận 17.727 ca tử vong toàn bộ và 3.555 ca tử vong sớm do bệnh không lây nhiễm (NCD) [7]. Ở nam giới, mức tiêu thụ natri cao nhất làm tăng tử vong chung (HR = 1,11; KTC 95%: 1,03-1,20) và tử vong sớm do NCD (HR = 1,25; KTC 95%: 1,06-1,47) [7]. Khi tính theo tỷ lệ natri/kali, mối liên hệ nguy cơ ở nam giới tăng mạnh hơn đối với tử vong chung (HR = 1,19; KTC 95%: 1,11-1,27), tử vong sớm do NCD (HR = 1,27; KTC 95%: 1,10-1,46) và ung thư (HR = 1,18; KTC 95%: 1,07-1,31) [7].

Nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích gộp công bố năm 2025 tổng hợp 24 nghiên cứu trên các đối tượng có độ tuổi trung bình 59 ± 11 tuổi, tỷ lệ natri/kali ước tính trong khẩu phần là 2,0 ± 0,6 mmol/mmol [3]. Tỷ lệ natri/kali khẩu phần cao hơn làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch và tử vong (HR = 1,10; KTC 95%: 1,06-1,16), xuất hiện ở cả dân số chung và người có tiền sử tim mạch [3]. Tuy nhiên, chất lượng bằng chứng có giới hạn khi chỉ có 9% nghiên cứu có nguy cơ sai lệch thấp, 39% nguy cơ sai lệch cao và 52% có một số lo ngại [3].

Nghiên cứu cắt ngang năm 2025 trên 637 vận động viên bán chuyên nghiệp trẻ tuổi (20-40 tuổi) bị thừa cân hoặc béo phì cho thấy nhóm có tỷ lệ natri/kali cao nhất có tỷ lệ vòng eo/hông cao hơn, nồng độ cholesterol toàn phần và lipoprotein (a) trong huyết thanh cao hơn đáng kể (p < 0,05) [8].

Bên cạnh đó, tồn tại một số kết quả chưa đồng nhất giữa các quần thể. Phân tích năm 2022 trên 143.050 người trưởng thành theo dõi trung bình 10,1 năm (ghi nhận 5.436 ca tử vong, gồm 985 ca tim mạch) cho thấy lượng natri nạp vào và tỷ lệ natri/kali không liên quan đáng kể đến tử vong sau khi hiệu chỉnh, dù kali vẫn liên quan nghịch đến tử vong chung (HR nhóm cao nhất so với thấp nhất là 0,79; KTC 95%: 0,69-0,91) [4]. Nghiên cứu Rotterdam năm 2007 theo dõi 5 năm trên người từ 55 tuổi trở lên cũng không tìm thấy mối liên quan nhất quán của natri, kali niệu hay tỷ lệ natri/kali niệu với bệnh tim mạch và tử vong chung [5]. Mối liên quan thuận giữa tỷ lệ natri/kali niệu và tử vong chung chỉ ghi nhận trên nhóm thừa cân ban đầu chưa mắc bệnh tim mạch và tăng huyết áp (RR = 1,19; KTC 95%: 1,02-1,39 mỗi đơn vị) [5].

Hiểu lầm thường gặp khi bảo vệ tim mạch

Nhiều người tin rằng chỉ cần kiêng muối hoàn toàn là đủ để huyết áp luôn ổn định và tim mạch an toàn. Trên thực tế, nếu chỉ cắt giảm natri mà chế độ ăn nghèo nàn kali, cơ thể vẫn thiếu đi yếu tố thúc đẩy bài tiết natri và giãn mạch [4], [5].

Một ngộ nhận khác là tập luyện thể thao cường độ cao sẽ loại bỏ mọi tác hại của khẩu phần ăn mặn. Dữ liệu trên nhóm vận động viên bán chuyên trẻ tuổi thừa cân cho thấy người có tỷ lệ natri/kali cao vẫn xuất hiện tình trạng rối loạn mỡ máu và tăng chỉ số xơ vữa bất lợi cho tim mạch [8].

Ai nên thận trọng khi điều chỉnh khoáng chất?

Việc chủ động tăng kali thông qua dinh dưỡng cần đặc biệt cẩn trọng ở nhóm bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính. Dữ liệu phân tích gộp năm 2025 chỉ ra rằng bằng chứng về tỷ lệ natri/kali ở bệnh nhân bệnh thận mạn còn rất hạn chế [3]. Thận suy giảm chức năng khó đào thải kali hiệu quả, dễ dẫn đến tình trạng tăng kali máu gây nguy hiểm tính mạng.

Những người đang mắc bệnh thận, đái tháo đường hoặc đang sử dụng các loại thuốc điều hòa huyết áp ảnh hưởng đến quá trình giữ kali không nên tự ý dùng các loại muối kali thay thế hoặc thực phẩm bổ sung liều cao mà chưa có chỉ định y khoa.

Gợi ý áp dụng thực tế trong bữa ăn

Để tối ưu hóa tỷ lệ natri/kali, việc điều chỉnh không chỉ dừng lại ở việc bớt nêm muối mà cần song hành cùng việc gia tăng các thực phẩm giàu kali tự nhiên. Chế độ ăn nên ưu tiên rau củ, trái cây tươi và các loại hạt nhằm cung cấp lượng kali dồi dào hàng ngày [5].

Hạn chế tối đa các loại thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh và các món ướp nhiều muối công nghiệp. Khi chế biến tại nhà, có thể thay thế một phần muối ăn và gia vị mặn bằng các loại thảo mộc, hạt tiêu để tăng hương vị tự nhiên mà không làm đội lượng natri nạp vào cơ thể quá mức 2.000 mg/ngày [2].

Lời khuyên cân bằng cho sức khỏe

Bảo vệ trái tim đòi hỏi một cái nhìn toàn diện về tương quan dinh dưỡng thay vì chỉ tập trung vào một khoáng chất riêng rẽ. Cắt giảm lượng muối ăn đồng thời tăng cường rau củ quả giàu kali tự nhiên là giải pháp bền vững giúp duy trì tỷ lệ natri/kali lý tưởng. Trước khi thực hiện những thay đổi lớn về chế độ ăn hoặc dùng sản phẩm thay thế muối, người có bệnh nền cần tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.