Đau nửa đầu là rối loạn mạch máu thần kinh phổ biến, ảnh hưởng từ 8% đến 14,7% dân số, thường nặng lên ở tuổi trưởng thành từ 22 đến 55 tuổi và gặp ở phụ nữ nhiều gấp 3 lần nam giới [1]. Nhiều người tìm đến chiết xuất cúc thơm (Feverfew) để ngừa cơn đau nhưng sớm bỏ cuộc vì uống vài ngày chưa thấy đỡ.

Thực tế, cúc thơm dùng cho mục đích dự phòng không cắt cơn đau tức thì như thuốc giảm đau. Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy người dùng cần duy trì đều đặn từ 6 đến 12 tuần, hoặc theo dõi qua từng chu kỳ 2 đến 4 tháng mới ghi nhận giảm rõ rệt tần suất và mức độ cơn đau [2][3][4]. Riêng công thức phối hợp chuẩn hóa hoạt chất parthenolide uống ngay khi chớm có triệu chứng báo trước (aura) có thể phát huy tác dụng ngay trong cơn cấp [5].

Cúc thơm tác động lên cơn đau nửa đầu như thế nào?

Cúc thơm có tên khoa học là Tanacetum parthenium, thuộc họ Cúc, vốn được dùng hàng trăm năm trong y học cổ truyền Hy Lạp, Trung Quốc, Ấn Độ và Ả Rập để hạ sốt, trị viêm khớp dạng thấp và ngừa đau nửa đầu [6]. Trong lá cúc thơm chứa nhiều hợp chất tự nhiên như tinh dầu, sesquiterpene lactone, dẫn xuất coumarin và các flavonoid như kaempferol, quercetin, apigenin, luteolin [7].

Trong đó, parthenolide được xác định là hoạt chất chính tạo nên tác dụng chống đau nửa đầu của thảo dược này [8]. Một nghiên cứu trên mô hình động vật năm 2005 cho thấy dịch chiết giàu parthenolide và parthenolide tinh khiết giúp ức chế sự hoạt hóa tế bào thần kinh do nitroglycerin gây ra tại nhân đuôi dây thần kinh sinh ba và các nhân não khác, đồng thời ức chế hoạt tính của yếu tố gây viêm nuclear factor-kappaB [8].

Về mặt sinh học, cơn đau nửa đầu liên quan mật thiết đến sự suy giảm serotonin (5-HT) và sự kích hoạt hệ thống mạch máu - thần kinh sinh ba [1]. Nghiên cứu công bố năm 2006 chỉ ra rằng cúc thơm có khả năng ức chế sự gắn kết vào các thụ thể serotonin 5-HT(2A/2C) [3].

Bên cạnh đó, nghiên cứu thực nghiệm năm 2021 trên mô vỏ não chuột và tế bào vùng dưới đồi cho thấy dịch chiết nước cúc thơm giúp giảm giải phóng chất gây viêm prostaglandin E2 (PGE2) và giảm biểu hiện gen IL-1beta [1]. Thảo dược này đồng thời làm tăng biểu hiện gen chống viêm IL-10 và yếu tố dinh dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF) [1]. Ngoài ra, parthenolide tương tác trực tiếp với chất vận chuyển dopamine (DAT), làm tăng biểu hiện gen DAT và giảm mức dopamine ngoại bào ở vùng dưới đồi, qua đó kiểm soát các con đường gây viêm và điều hòa dẫn truyền thần kinh trong cơn đau nửa đầu [1].

Nghiên cứu lâm sàng nói gì về thời gian và liều lượng?

Hiệu quả và thời gian phát huy tác dụng của cúc thơm đã được kiểm chứng qua nhiều thử nghiệm lâm sàng với các dạng bào chế khác nhau.

Một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược và thiết kế bắt chéo công bố năm 1988 đã đánh giá tác dụng ngừa đau nửa đầu của lá cúc thơm khô [4]. Sau 1 tháng dùng giả dược, 72 tình nguyện viên được chia ngẫu nhiên uống mỗi ngày 1 viên nang lá cúc thơm khô hoặc giả dược trong 4 tháng, sau đó đổi chéo nhóm trong 4 tháng tiếp theo [4]. Kết quả phân tích trên 59 người hoàn tất đầy đủ dữ liệu từ thẻ nhật ký phát mỗi 2 tháng cho thấy nhóm dùng cúc thơm giảm số lượng cơn đau trung bình, giảm mức độ nặng của cơn đau trong mỗi chu kỳ 2 tháng và giảm mức độ nôn ói [4]. Tuy nhiên, thời gian kéo dài của từng cơn đau riêng lẻ không thay đổi [4].

Để chuẩn hóa liều lượng, một thử nghiệm đa trung tâm, mù đôi, ngẫu nhiên có đối chứng giả dược năm 2002 đã khảo sát chiết xuất cúc thơm ổn định (MIG-99) sản xuất bằng công nghệ CO2 siêu tới hạn [2]. Nghiên cứu thực hiện trên 147 bệnh nhân đau nửa đầu có hoặc không có triệu chứng báo trước (aura), kéo dài 12 tuần điều trị sau 4 tuần theo dõi nền [2]. Bệnh nhân được chia dùng giả dược hoặc 3 mức liều MIG-99 là 2,08 mg, 6,25 mg và 18,75 mg, uống 3 lần mỗi ngày [2]. Khi xét trên toàn bộ mẫu nghiên cứu, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm [2]. Tuy nhiên, ở nhóm phân tích xác nhận gồm 49 bệnh nhân có ít nhất 4 cơn đau nửa đầu trong 4 tuần đầu, tần suất cơn đau trong 28 ngày cuối của đợt điều trị 12 tuần đã giảm phụ thuộc theo liều dùng [2]. Hiệu quả cao nhất ghi nhận ở mức liều 6,25 mg uống 3 lần mỗi ngày, giúp giảm trung bình 1,8 cơn đau mỗi 28 ngày so với giả dược [2].

Khi kết hợp cúc thơm với thảo dược khác, thời gian thấy rõ hiệu quả có thể rút ngắn xuống mốc 6 tuần. Một nghiên cứu nhãn mở tiến cứu năm 2006 trên 12 bệnh nhân đau nửa đầu không có aura đã sử dụng viên phối hợp gồm 300 mg Tanacetum parthenium và 300 mg vỏ liễu trắng (Salix alba), uống 2 lần mỗi ngày trong 12 tuần [3]. Kết quả trên 10 bệnh nhân (sau khi loại 2 người vì lý do không liên quan điều trị) cho thấy tần suất cơn đau giảm 57,2% ở tuần thứ 6 và giảm 61,7% ở tuần thứ 12 [3]. Cường độ đau giảm 38,7% sau 6 tuần và giảm 62,6% sau 12 tuần [3]. Thời gian kéo dài cơn đau cũng giảm 67,2% ở tuần thứ 6 và giảm 76,2% ở tuần thứ 12, đồng thời cải thiện sức khỏe tổng quát, thể chất, trí nhớ và giảm lo âu [3].

Đối với mục đích cắt cơn cấp tính ngay khi xuất hiện triệu chứng báo trước (aura), nghiên cứu thí điểm năm 2019 trên 50 bệnh nhân (27 nam, 23 nữ, tuổi trung bình 31) có ít nhất 3 đợt aura mỗi năm đã cho kết quả khả quan [5]. Bệnh nhân uống 1 viên phức hợp Aurastop (chứa 150 mg cúc thơm chiết xuất chuẩn hóa 0,8% tương đương 1,2 mg parthenolide hoạt tính, kết hợp 20 mg 5-HTP từ Griffonia simplicifolia và 185 mg magie pidolatum) ngay khi bắt đầu có dấu hiệu aura ở 2 cơn đầu, và uống 1 viên magie đơn độc (chứa 184 mg Mg++) ở 2 cơn tiếp theo [5]. Kết quả có tới 96% bệnh nhân (48 người) giảm trên 50% thời gian kéo dài aura và giảm trên 50% mức độ tàn phế do aura khi dùng viên phối hợp chứa cúc thơm, so với tỷ lệ tương ứng chỉ 14% và 10% khi dùng magie đơn độc [5]. Ngoài ra, người dùng viên phối hợp không cần uống thêm thuốc giảm đau trong 35% số cơn, cao hơn hẳn mức 3% khi chỉ dùng magie [5].

Lợi ích và giới hạn của bằng chứng khoa học

Các dữ liệu hiện có cho thấy cúc thơm mang lại lợi ích rõ ràng trong việc giảm tần suất cơn đau, giảm cường độ đau cũng như giảm các triệu chứng đi kèm như rối loạn thị giác, buồn nôn và nôn ói [3][4][7]. Ngay cả dịch chiết cúc thơm đã loại bỏ parthenolide vẫn thể hiện hoạt tính chống oxy hóa và giảm giải phóng cytokine gây viêm trong các thử nghiệm phòng thí nghiệm [7].

Tuy nhiên, giới hạn của các bằng chứng hiện tại là sự thiếu đồng nhất về hiệu quả giữa các chế phẩm [8]. Nguyên nhân chủ yếu do hàm lượng hoạt chất trong thảo dược tự nhiên biến thiên lớn và trước đây chưa xác định chắc chắn hoạt chất chính [8]. Nghiên cứu năm 2002 cũng chỉ ra chiết xuất cúc thơm đơn độc chỉ phát huy hiệu quả rõ rệt ở nhóm bệnh nhân bị đau nửa đầu thường xuyên (từ 4 cơn trở lên trong một tháng), trong khi nhóm bị thưa hơn không thấy sự khác biệt thống kê trên tổng mẫu [2]. Hơn nữa, một số nghiên cứu kết hợp có cỡ mẫu còn nhỏ (như nghiên cứu năm 2006 chỉ có 12 bệnh nhân và không có nhóm đối chứng giả dược), đòi hỏi thêm các thử nghiệm mù đôi quy mô lớn hơn [3].

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng cúc thơm

Hiểu lầm phổ biến nhất là coi cúc thơm như thuốc giảm đau thông thường, chỉ uống khi đầu đã nhức dữ dội. Ngoại trừ dạng phối hợp chuẩn hóa parthenolide kết hợp 5-HTP và magie được thiết kế uống ngay lúc chớm có dấu hiệu aura [5], các dạng cúc thơm thông thường cần uống hàng ngày suốt nhiều tuần mới giảm được số cơn đau [2][3][4].

Hiểu lầm thứ hai là dùng lá cúc thơm hay viên nang liều càng cao và kéo dài càng lâu thì càng an toàn. Thực tế, trong thử nghiệm năm 2002, mức liều 6,25 mg uống 3 lần mỗi ngày đem lại mức giảm cơn đau tốt nhất, cao hơn cả mức liều 18,75 mg uống 3 lần mỗi ngày [2]. Về thời gian, việc sử dụng cúc thơm ngắn hạn (tối đa 4 tháng) được xem là an toàn ở người lớn, nhưng dùng liều cao kéo dài nhiều tháng có thể dẫn đến biến chứng chảy máu bất thường [6].

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Trong hầu hết các thử nghiệm lâm sàng, cúc thơm dung nạp tốt, không gây tác dụng phụ nghiêm trọng; các phản ứng bất lợi khiến người bệnh ngưng thuốc chủ yếu là rối loạn tiêu hóa nhẹ và có thể hồi phục [6][3][4].

Tuy nhiên, báo cáo y khoa năm 2020 đã ghi nhận trường hợp một phụ nữ 36 tuổi bị đau nửa đầu gặp tình trạng chảy máu âm đạo bất thường, kỳ kinh kéo dài và da ửng đỏ sau khi uống viên nang cúc thơm liều 800 mg, 3 lần mỗi ngày liên tục trong 9 tháng [6]. Các xét nghiệm và thang điểm đánh giá xác định có mối liên hệ có thể xảy ra giữa việc dùng cúc thơm và tình trạng rối loạn đông máu, chảy máu âm đạo này [6].

Do đó, ba nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng khi dùng cúc thơm gồm: người đang có kế hoạch phẫu thuật tự chọn, người mắc các rối loạn đông máu và người đang sử dụng thuốc chống huyết khối (thuốc làm loãng máu) [6]. Phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt bất thường hoặc người có bệnh nền đang dùng thuốc điều trị cũng cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng.

Cách áp dụng thực tế để đạt hiệu quả an toàn

Để cúc thơm phát huy tác dụng ngừa đau nửa đầu, người dùng nên chọn các sản phẩm chiết xuất đã được chuẩn hóa hàm lượng hoạt chất thay vì tự hái lá pha uống không rõ liều lượng [2][5][8]. Nếu dùng chiết xuất CO2 siêu tới hạn (MIG-99), mức liều có hiệu quả trong nghiên cứu là 6,25 mg uống 3 lần mỗi ngày, duy trì trong 12 tuần cho người có từ 4 cơn đau mỗi tháng [2].

Nếu sử dụng dạng phối hợp cúc thơm (300 mg) cùng vỏ liễu trắng (300 mg) uống 2 lần mỗi ngày, người bệnh có thể theo dõi sự thuyên giảm tần suất và mức độ đau từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 12 [3]. Với người bị đau nửa đầu có triệu chứng báo trước (aura), có thể tham khảo viên phối hợp chứa 150 mg cúc thơm (chuẩn hóa 0,8% tương đương 1,2 mg parthenolide) cùng 20 mg 5-HTP và 185 mg magie pidolatum, uống ngay thời điểm bắt đầu xuất hiện dấu hiệu aura [5].

Người bệnh chỉ nên dùng trong đợt ngắn hạn khoảng 3 đến 4 tháng, đồng thời ghi nhật ký theo dõi số cơn đau mỗi tháng [2][6][4]. Bên cạnh đó, duy trì lối sống lành mạnh, ngủ đủ giấc, uống đủ nước và kiểm soát căng thẳng sẽ hỗ trợ kiểm soát bệnh tốt hơn.

Cúc thơm là giải pháp thảo dược có cơ sở khoa học giúp giảm tần suất và mức độ đau nửa đầu nếu dùng đúng liều chuẩn hóa và kiên trì từ 6 đến 12 tuần [2][5][3]. Thảo dược này không thay thế hoàn toàn thuốc đặc trị và không khẳng định chữa khỏi dứt điểm bệnh. Người bệnh cần tham khảo ý kiến bác sĩ để chọn phác đồ phù hợp và ngưng dùng ngay nếu có dấu hiệu chảy máu bất thường [6].