Dầu cá chứa omega-3 từ lâu được nhiều người xem là thực phẩm bổ sung quen thuộc giúp bảo vệ sức khỏe tim mạch. Tuy nhiên, việc tự ý sử dụng liều cao trong thời gian dài gần đây dấy lên lo ngại về nguy cơ gây rối loạn nhịp tim, đặc biệt là rung nhĩ.

Các dữ liệu nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa dầu cá và nhịp tim không hoàn toàn đơn giản. Trong khi mức omega-3 tự nhiên trong máu liên quan đến việc giảm nguy cơ, việc bổ sung bằng viên uống liều cao lại ghi nhận những tác động trái chiều tùy thuộc vào thể trạng và bệnh nền tim mạch của từng cá nhân [1, 5].

Cơ chế tác động lên mô cơ tim

Rung nhĩ là tình trạng rối loạn nhịp tim phổ biến, xảy ra khi các xung động điện trong tâm nhĩ bị hỗn loạn khiến tim đập nhanh và không đều. Để tìm hiểu tác động của dầu cá, các nhà khoa học đã phân tích cách các axit béo chưa bão hòa tích tụ vào màng tế bào cơ tim [1].

Ở mức độ tế bào, axit béo omega-3 được cho là có khả năng tác động gián tiếp lên hệ thần kinh tự chủ [2]. Dưỡng chất này ức chế các kênh natri nhanh phụ thuộc điện thế và kênh canxi loại L [2]. Đồng thời, omega-3 hỗ trợ khôi phục sự cân bằng giữa axit béo omega-6 và omega-3, bên cạnh đặc tính kháng viêm tự nhiên [2].

Trên mô hình động vật thí nghiệm, các nhà nghiên cứu nhận thấy việc bổ sung omega-3 vào chế độ ăn giúp cơ tim chịu đựng áp lực tốt hơn [1]. Khi tâm nhĩ bị căng giãn do áp lực buồng tim tăng, các mô cơ tim đã tích tụ đủ omega-3 cần mức kích thích điện và áp lực cao hơn nhiều mới khởi phát cơn rung nhĩ [1].

Dù vậy, tính chất điện sinh lý học của tim người phức tạp hơn rất nhiều. Các nhà khoa học lưu ý rằng tác động chống loạn nhịp hay khởi phát loạn nhịp của omega-3 phụ thuộc chặt chẽ vào tình trạng bệnh học cơ tim sẵn có, chẳng hạn như tình trạng thiếu máu cục bộ, mô sẹo cơ tim hay phản ứng viêm [3]. Thậm chí ở một số bệnh nhân rối loạn nhịp thất không do thiếu máu cục bộ, dưỡng chất này còn bị nghi ngờ có thể gây khởi phát loạn nhịp [2].

Dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng

Để làm rõ lợi ích cũng như rủi ro, nhiều thử nghiệm lâm sàng và nghiên cứu quan sát quy mô lớn đã được tiến hành trên các nhóm đối tượng khác nhau.

Một nghiên cứu quan sát tiến cứu công bố năm 2025 sử dụng dữ liệu từ ngân hàng sinh học UK Biobank tại Anh đã theo dõi hàng trăm nghìn người trong thời gian trung vị 12,7 năm [4]. Trong số 261.108 người được định lượng omega-3 huyết tương và 466.169 người báo cáo thói quen dùng viên dầu cá, có 31% đối tượng ghi nhận có sử dụng dầu cá bổ sung [4].

Kết quả ban đầu cho thấy nồng độ omega-3 tự nhiên trong huyết tương càng cao thì nguy cơ mắc rung nhĩ mới xuất hiện càng thấp (tỷ số nguy cơ HR = 0,87 ở nhóm có nồng độ cao nhất so với nhóm thấp nhất) [4]. Việc bổ sung viên dầu cá thường gặp hơn ở người lớn tuổi [4]. Khi các nhà nghiên cứu tiến hành hiệu chỉnh biến số tuổi tác theo dạng liên tục, mối liên hệ giữa việc uống viên dầu cá và nguy cơ rung nhĩ hoàn toàn biến mất (HR = 1,00; khoảng tin cậy 95% từ 0,97 đến 1,02) [4].

Ở một góc độ khác, một thử nghiệm nhãn mở ngẫu nhiên công bố năm 2012 thực hiện trên 178 bệnh nhân bị rung nhĩ dai dẳng kéo dài trên 1 tháng trước khi thực hiện sốc điện chuyển nhịp [5]. Nhóm can thiệp gồm 91 bệnh nhân được chỉ định uống liều cao 6 g dầu cá mỗi ngày, duy trì trung bình 56 ngày trước thủ thuật và kéo dài theo dõi tổng cộng 242 ngày [5]. Nhóm đối chứng gồm 87 người không bổ sung dầu cá [5].

Nghiên cứu ghi nhận nồng độ hoạt chất EPA và DHA trong máu nhóm can thiệp tăng lần lượt 1,8 lần và 2,1 lần so với đối chứng [5]. Sau 90 ngày theo dõi, tỷ lệ tái phát rung nhĩ ở nhóm uống dầu cá liều cao chỉ là 38,5%, thấp hơn đáng kể so với mức 77,5% ở nhóm đối chứng (HR = 0,38; khoảng tin cậy 95% từ 0,27 đến 0,56) [5].

Một nghiên cứu nhỏ khác tiến hành năm 2011 trên 36 bệnh nhân rung nhĩ kịch phát chuẩn bị triệt đốt cô lập tĩnh mạch phổi [6]. 18 bệnh nhân uống dầu cá liều cao 6 g mỗi ngày trong thời gian trung bình 40 ngày, 18 bệnh nhân thuộc nhóm đối chứng [6]. Kết quả điện sinh lý cho thấy nhóm dùng dầu cá có thời gian trơ hiệu quả của tâm nhĩ trái và tĩnh mạch phổi kéo dài hơn, tỷ lệ khởi phát rung nhĩ từ tĩnh mạch phổi giảm từ 77% xuống 31% [6].

Nghiên cứu tổng quan năm 2012 cũng nhắc đến thử nghiệm ở người rung nhĩ dai dẳng có dùng thuốc amiodarone và ức chế hệ RAAS, việc uống thêm 2 g omega-3 mỗi ngày giúp cải thiện khả năng duy trì nhịp xoang sau chuyển nhịp [3]. Việc dùng 1,5 g DHA kèm 0,3 g EPA mỗi ngày cũng cho thấy ảnh hưởng lên thời gian trơ của tâm nhĩ [3].

Bằng chứng tổng hợp và những giới hạn

Mặc dù một số nghiên cứu liều cao cục bộ cho kết quả hỗ trợ kiểm soát nhịp, bức tranh toàn cảnh từ các phân tích gộp lại cho thấy tác dụng tổng thể là không rõ ràng [4, 5].

Một phân tích gộp công bố năm 2012 tổng hợp dữ liệu từ 7 nghiên cứu đoàn hệ và 11 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nhằm đánh giá ảnh hưởng của axit béo omega-3 lên nguy cơ rung nhĩ mới mắc hoặc tái phát [7]. Kết quả tỷ số chênh gộp (OR) ở các thử nghiệm lâm sàng là 0,79 (khoảng tin cậy 95% từ 0,56 đến 1,12) và ở nghiên cứu đoàn hệ là 0,83 (khoảng tin cậy 95% từ 0,59 đến 1,16) [7]. Vì các khoảng tin cậy đều đi qua giá trị 1, nghiên cứu kết luận không có bằng chứng thuyết phục cho thấy dầu cá tạo ra tác động lớn lên nguy cơ rung nhĩ [7].

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng các bằng chứng lâm sàng hiện nay rất không đồng nhất [5, 7]. Hiệu quả hay rủi ro của dầu cá dao động mạnh dựa trên tình trạng tim mạch nền tảng của từng người, bệnh lý cơ tim thiếu máu hay không thiếu máu, và các loại thuốc điều trị đi kèm như thuốc chẹn beta, thuốc ức chế men chuyển hay statin [3].

Một số nghiên cứu quy mô nhỏ ghi nhận dầu cá giúp giảm rung nhĩ sau phẫu thuật bắc cầu mạch vành, nhưng các nghiên cứu và phân tích gộp lớn hơn sau đó lại không thể tái lập kết quả này [5, 7]. Hơn nữa, các thử nghiệm thiết kế mở với số lượng mẫu vài chục đến hơn một trăm người chưa đủ bao quát để áp dụng rộng rãi ra cộng đồng [2, 8].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng dầu cá

Nhiều người tiêu dùng lầm tưởng rằng dầu cá là thực phẩm tự nhiên nên uống càng nhiều càng tốt cho tim mạch. Đây là quan niệm chưa chuẩn xác và có thể dẫn tới những tác dụng phụ không mong muốn.

Thực tế, dữ liệu bảo vệ nhịp tim phần lớn gắn liền với nồng độ omega-3 tự nhiên trong chế độ ăn tổng thể, chứ không đồng nghĩa với việc uống viên bổ sung liều cao sẽ mang lại lợi ích tương đương [4]. Việc tự ý nạp liều cao vượt ngưỡng khuyến cáo hàng ngày mà không có chỉ định có thể làm thay đổi đặc tính điện thế tế bào cơ tim theo hướng khó lường [5, 7].

Một hiểu lầm khác là dầu cá có thể thay thế thuốc điều trị loạn nhịp tim. Dầu cá chỉ là hợp chất hỗ trợ dinh dưỡng hoặc được thử nghiệm bổ trợ trong các phác đồ y khoa cụ thể [2, 3]. Dầu cá không phải là thuốc chống loạn nhịp độc lập và không thể thay thế các can thiệp chuyên khoa như sốc điện hay triệt đốt điện sinh lý [2, 8].

Ai nên thận trọng trước liều cao?

Việc bổ sung dầu cá liều cao cần phải được cân nhắc hết sức cẩn trọng ở những đối tượng có vấn đề sức khỏe đặc thù.

Người có tiền sử bệnh tim mạch thực tổn, suy tim, có mô sẹo cơ tim sau nhồi máu hoặc từng bị các cơn rối loạn nhịp thất không do thiếu máu cục bộ tuyệt đối không tự ý dùng liều cao [5, 7]. Trong những điều kiện bệnh học này, omega-3 có nguy cơ kích thích dẫn truyền dị thường gây loạn nhịp [5, 7].

Người chuẩn bị thực hiện các can thiệp tim mạch, chuyển nhịp xoang hoặc phẫu thuật cần thông báo cho bác sĩ điều trị về các loại viên uống bổ sung đang dùng [2, 8]. Tương tự, những người đang điều trị bằng thuốc tim mạch như thuốc chống loạn nhịp (amiodarone, sotalol), thuốc huyết áp nhóm ức chế men chuyển hay thuốc chống đông máu cần có sự giám sát y khoa chặt chẽ vì omega-3 có tương tác sinh lý với các liệu trình này [2, 5].

Hiện nay, các nghiên cứu tập trung đánh giá trên người trưởng thành và bệnh nhân tim mạch [1, 2, 8]. Chưa có đủ dữ liệu an toàn về việc dùng dầu cá liều cao để phòng ngừa loạn nhịp trên các đối tượng như phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú hay trẻ em.

Áp dụng chế độ bổ sung an toàn

Để bảo vệ hệ tim mạch mà vẫn đảm bảo an toàn, người tiêu dùng nên ưu tiên nhận nguồn omega-3 thông qua chế độ ăn uống cân bằng giàu thực phẩm tự nhiên thay vì lạm dụng viên uống đậm đặc.

Các loại cá biển tự nhiên là nguồn cung cấp dồi dào cả EPA và DHA. Việc bổ sung cá đều đặn trong các bữa ăn hàng tuần giúp duy trì nồng độ omega-3 huyết tương ổn định, yếu tố vốn được chứng minh liên quan mật thiết đến việc giảm thiểu rủi ro rối loạn nhịp [4].

Nếu có nhu cầu sử dụng thực phẩm chức năng dầu cá, người dùng chỉ nên duy trì ở lượng vừa phải theo hướng dẫn trên nhãn mác hoặc chỉ dẫn của chuyên gia dinh dưỡng. Tránh hoàn toàn việc tự ý uống dồn liều cao nhiều gram mỗi ngày với hy vọng phòng bệnh cấp tốc. Khi xuất hiện các dấu hiệu hồi hộp, đánh trống ngực, tim đập không đều hoặc khó thở trong quá trình sử dụng, cần ngưng uống và đến cơ sở y tế thăm khám ngay lập tức.

Kết luận

Dầu cá omega-3 đóng vai trò nhất định đối với sức khỏe cơ tim, nhưng không phải là dưỡng chất sử dụng liều càng cao càng tốt. Mối liên hệ giữa omega-3 và nguy cơ rung nhĩ phụ thuộc chặt chẽ vào nồng độ hấp thu, liều lượng và tình trạng bệnh lý nền của mỗi người. Thay vì tự ý dùng thực phẩm bổ sung liều cao, việc duy trì lối sống lành mạnh kết hợp tham vấn bác sĩ chuyên khoa là cách an toàn nhất để bảo vệ trái tim.