Trà sả từ lâu đã là thức uống quen thuộc trong nhiều gia đình Việt để làm ấm bụng và hỗ trợ tiêu hóa. Tuy nhiên, nhiều người hái hoặc mua nhầm cây sả Sri Lanka (sả trồng lấy tinh dầu đuổi muỗi) để nấu nước uống và lo lắng liệu loại sả này có gây hại cho dạ dày hay không.

Câu trả lời ngắn gọn là: Chưa có dữ liệu khoa học xác nhận tính an toàn cho dạ dày và nội tạng khi uống trà từ cây sả Sri Lanka (Cymbopogon nardus). Khác với sả chanh ăn được (Cymbopogon citratus) đã được chứng minh không gây hại dạ dày qua đường uống trên động vật [1], sả Sri Lanka có thành phần hóa học và mức độ độc tính khác biệt rõ rệt, chủ yếu chỉ được nghiên cứu để diệt khuẩn ngoài da, làm sạch dụng cụ nha khoa hoặc diệt côn trùng [2][3][4].

Nhầm lẫn tai hại giữa sả ăn và sả đuổi muỗi

Họ Hòa thảo (Poaceae) bao gồm chi Sả (Cymbopogon) với hơn 140 loài được gieo trồng trên thế giới, đa số là cây lâu năm và một số ít là cây hàng năm [2]. Tại Việt Nam, người dân thường gọi chung các loài này là "cây sả" vì hình dáng bụi lá dài và mùi thơm khá giống nhau. Sự tương đồng về ngoại hình khiến không ít người hái lá sả trồng quanh vườn làm rào chắn muỗi để đun nước uống như trà giải khát.

Thực tế, loại sả dùng trong ẩm thực và pha trà hàng ngày là sả chanh, có tên khoa học là Cymbopogon citratus [1]. Ngược lại, sả Sri Lanka có tên khoa học là Cymbopogon nardus (cùng nhóm thương mại với sả Java Cymbopogon winterianus) lại là giống sả chuyên dùng trong công nghiệp chiết xuất [2][5]. Việc đánh đồng hai loài thực vật này khi đưa vào cơ thể qua đường tiêu hóa tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiếu hụt dữ liệu an toàn đường uống của sả Sri Lanka.

Khác biệt về hoạt chất và cơ chế tác động

Dù cùng thuộc chi Cymbopogon, mỗi loài lại mang hồ sơ hóa học và độc tính rất khác nhau [2]. Một phân tích công bố năm 2021 trên 19 mẫu tinh dầu từ 7 loài sả khác nhau (C. nardus, C. citratus, C. winterianus, C. flexuosus, C. schoenanthus, C. martinii, C. giganteus) bằng sắc ký khí khối phổ (GC/MS) và sắc ký lớp mỏng (TLC) đã xác lập tới 5 nhóm kiểu hóa học (chemotypes) riêng biệt [2]. Các hợp chất tham chiếu đặc trưng được tìm thấy bao gồm citronellol, geraniol và citral (gồm neral và geranial) [2].

Một nghiên cứu khác vào năm 2024 phân tích dịch chiết ethanol từ rễ, thân và lá của 3 loài sả thương mại tại Indonesia là sả chanh (C. citratus), sả Sri Lanka (C. nardus) và sả Java (C. winterianus) đã phát hiện 53 chất chuyển hóa [5]. Trong đó, 3 hợp chất chiếm tỷ lệ cao nhất là 2,5-bis(1,1-dimethylethyl)-phenol (27,87%), alpha-cadinol (26,76%) và 1,2-dimethoxy-4-(1-propenyl)-benzene (20,56%) [5]. Riêng tinh dầu sả Sri Lanka (C. nardus) trong nghiên cứu năm 2013 còn chứa alpha-eudesmol, gamma-eudesmol, elemol, alpha-cadinol và eugenol [6].

Chính sự khác biệt về cấu trúc hóa học này dẫn đến sự chênh lệch đáng kể về độc tính giữa các loài sả khi thử nghiệm trên mô hình sinh vật sống [2]. Những hợp chất có hoạt tính diệt khuẩn, diệt ký sinh trùng và xua đuổi côn trùng mạnh trong sả Sri Lanka không đồng nghĩa với việc chúng êm dịu với niêm mạc dạ dày khi uống.

Nghiên cứu nói gì về độ an toàn đường uống?

Cho đến nay, các bằng chứng trực tiếp đánh giá độ an toàn trên dạ dày và nội tạng qua đường uống tập trung vào sả chanh (C. citratus) và sả khổng lồ châu Phi (C. giganteus), trong khi sả Sri Lanka (C. nardus) mới chỉ dừng ở mức thử nghiệm tế bào và mô hình cá ngựa vằn.

Đối với sả chanh ăn được (C. citratus), một nghiên cứu năm 2011 trên chuột nhắt trắng giống Swiss đực đã kiểm tra độc tính cấp trong 24 giờ và độc tính lặp lại trong 21 ngày đường uống [1]. Kết quả cho thấy liều gây chết trung bình (LD50) đường uống cấp tính là khoảng 3500 mg/kg, mức rất an toàn [1]. Khi cho chuột uống tinh dầu sả chanh liên tục 21 ngày ở các liều 1, 10 hoặc 100 mg/kg so với hai nhóm đối chứng (dùng nước muối sinh lý hoặc Tween 80 0,01%), các nhà khoa học không ghi nhận bất kỳ thay đổi bất thường nào về trọng lượng cơ thể, xét nghiệm nước tiểu, sinh hóa lâm sàng hay mô bệnh học của dạ dày, gan, thận, tim, não, phổi, lá lách và bàng quang [1]. Thử nghiệm sao chổi (comet assay) trên tế bào máu ngoại vi cũng xác nhận không có độc tính gen, đồng thời liều cao nhất còn giúp giảm cholesterol máu [1].

Một loài sả khác được dùng trong y học cổ truyền châu Phi là Cymbopogon giganteus cũng được kiểm tra kỹ về độc tính đường uống trong nghiên cứu năm 2020 tại Benin [7]. Thử nghiệm trên chuột cống Wistar cho thấy uống liều đơn 2000 mg/kg không gây tử vong hay ngộ độc (LD50 lớn hơn 2000 mg/kg), và uống liên tục 28 ngày ở liều 50 hoặc 500 mg/kg không làm thay đổi trọng lượng cơ quan, chỉ số huyết học, sinh hóa hay mô bệnh học so với nhóm chứng [7]. Tinh dầu này cũng không gây đột biến gen trên chủng vi khuẩn Salmonella typhimurium TA98 và TA100 ở nồng độ cao nhất 200 microgam/đĩa [7]. Tuy nhiên, nghiên cứu này phát hiện rủi ro lớn khi hít: liều đơn nhũ tương 2% hoặc 5% v/v gây viêm phổi và tử vong chỉ sau 3 giờ, trong khi nồng độ thấp 0,125% hoặc 0,5% v/v thì an toàn sau 3 giờ và 24 giờ [7].

Ngược lại, với sả Sri Lanka (C. nardus), không có thử nghiệm cho uống lặp lại trên động vật có vú nào trong các tài liệu trên để kiểm tra mô học dạ dày. Nghiên cứu năm 2021 khi đánh giá 19 loại tinh dầu sả trên mô hình cá ngựa vằn (Danio rerio) đã chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độc tính giữa các loài sả được khảo sát [2].

Về mức độ an toàn tế bào trong ống nghiệm (in vitro), nghiên cứu năm 2024 sử dụng thử nghiệm MTT trên dòng tế bào gan người Huh7it-1 ghi nhận dịch chiết ethanol từ rễ, thân, lá của sả Sri Lanka (C. nardus), sả chanh (C. citratus) và sả Java (C. winterianus) có độc tính tế bào thấp [5]. Tương tự, nghiên cứu năm 2013 đánh giá tinh dầu sả Sri Lanka (C. nardus) và các phân đoạn sắc ký (F4, F6, F7, F8) trên dòng tế bào thận bình thường (Vero) cho thấy chỉ số IC50 lớn hơn 100 microgam/mL, tức không gây độc cho dòng tế bào thận này ở nồng độ thử nghiệm [6]. Dù vậy, không gây độc tế bào thận và gan trong đĩa nuôi cấy không thể thay thế cho bằng chứng an toàn đối với niêm mạc dạ dày khi uống trực tiếp.

Tác dụng thực sự của sả Sri Lanka nằm ở đâu?

Thay vì dùng làm trà uống, các dữ liệu khoa học hiện có chứng minh sả Sri Lanka (C. nardus) phát huy hiệu quả mạnh mẽ trong việc kháng khuẩn bề mặt, chống oxy hóa và kiểm soát côn trùng truyền bệnh.

Trong lĩnh vực kháng khuẩn và chống oxy hóa, nghiên cứu năm 2024 cho thấy lá sả Sri Lanka (C. nardus) và lá sả Java (C. winterianus) đạt hoạt tính chống oxy hóa cao nhất khi đo bằng phương pháp ABTS và DPPH [5]. Dịch chiết lá sả Sri Lanka thể hiện khả năng kháng khuẩn mạnh nhất chống lại vi khuẩn đường ruột Escherichia coli và tụ cầu vàng Staphylococcus aureus, trong khi chiết xuất thân sả Java mạnh nhất trên Bacillus subtilis [5]. Nghiên cứu năm 2021 cũng xác nhận các loài sả khảo sát (bao gồm C. nardus) có hoạt tính từ trung bình đến cao chống lại vi khuẩn tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) và màng sinh học của chúng, dù loài mạnh nhất là C. flexuosus [2].

Trong nha khoa, một tổng quan hệ thống năm 2024 phân tích 12 nghiên cứu in vitro (từ 1467 bài báo ban đầu) về khả năng diệt màng sinh học trên nhựa acrylic làm hàm giả [3]. Kết quả chỉ ra tinh dầu sả Sri Lanka (C. nardus), sả chanh (C. citratus) và quế (Cinnamomum zeylanicum) có tác dụng diệt màng sinh học cao hơn cả dung dịch sát khuẩn chlorhexidine [3]. Thậm chí, tinh dầu sả Sri Lanka còn hoạt động mạnh hơn nước súc miệng Listerine trong việc làm sạch màng sinh học trên nhựa nha khoa [3].

Về khả năng diệt ký sinh trùng và côn trùng, nghiên cứu năm 2013 cho thấy tinh dầu sả Sri Lanka thô ức chế mạnh ký sinh trùng gây bệnh ngủ châu Phi Trypanosoma brucei brucei BS221 với IC50 chỉ 0,31 ± 0,03 microgam/mL (các phân đoạn F4, F6, F7, F8 có IC50 từ 0,61 đến 1,15 microgam/mL) [6]. Một nghiên cứu năm 2022 theo quy trình của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chứng minh khi phối hợp tinh dầu sả Sri Lanka (C. nardus) và cây é mỹ (Ocimum americanum) theo tỷ lệ 80:20 hoặc 90:10 ở nồng độ 1% đã tiêu diệt từ 80,7% đến 100% quần thể muỗi Anopheles gambiae truyền bệnh sốt rét kháng thuốc tại thực địa [4]. Đáng chú ý, nghiên cứu năm 2023 ghi nhận dịch chiết sả Sri Lanka không gây độc cho loài ong ký sinh có ích Bracon hebetor trong khoảng thời gian theo dõi lên đến 2 ngày, giúp bảo vệ thiên địch trong nông nghiệp [8].

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng cây sả

Hiểu lầm phổ biến nhất là "cứ cây sả có mùi thơm thì đều nấu nước uống được". Như các phân tích sắc ký đã chỉ ra, chi Cymbopogon có hơn 140 loài với 5 kiểu hóa học khác nhau [2]. Việc một loài có độc tính tế bào thấp trong ống nghiệm [5][6] hay không hại côn trùng có ích [8] hoàn toàn không có nghĩa là an toàn để đun trà uống vào dạ dày mỗi ngày.

Hiểu lầm thứ hai là dùng tinh dầu sả đậm đặc để uống hoặc xông hít tùy tiện nhằm trị bệnh. Dữ liệu từ loài C. giganteus đã cảnh báo rất rõ: cùng một loại tinh dầu có thể không gây độc khi uống ở liều thử nghiệm nhưng lại gây viêm phổi cấp và tử vong chỉ sau 3 giờ nếu hít phải nhũ tương nồng độ 2% đến 5% [7]. Tinh dầu sả Sri Lanka vốn có hoạt tính sát khuẩn mạnh hơn cả chlorhexidine và Listerine trên bề mặt nhựa nha khoa [3], nếu uống nhầm tinh dầu hoặc nước sắc quá đặc có thể gây kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa.

Ai nên thận trọng?

Trước hết, những người có tiền sử viêm loét dạ dày - tá tràng, trào ngược dạ dày thực quản tuyệt đối không nên tự ý hái lá sả Sri Lanka (C. nardus) hoặc các giống sả lạ dùng lấy tinh dầu để pha trà uống. Ngay cả với sả chanh ăn được (C. citratus), các dữ liệu an toàn cho dạ dày hiện tại cũng mới được kiểm chứng trên mô hình chuột nhắt khỏe mạnh trong 21 ngày [1], chưa có thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn trên bệnh nhân đau dạ dày.

Phụ nữ mang thai, đang cho con bú, trẻ nhỏ và người có bệnh nền gan, thận hoặc đang dùng thuốc điều trị mạn tính cần đặc biệt lưu ý. Sả chanh có khả năng làm giảm cholesterol máu ở liều cao trên động vật [1], và các loài sả chứa tới 53 chất chuyển hóa khác nhau [5], nên việc uống lượng lớn nước sả đặc có thể tương tác với thuốc đang sử dụng. Người có bệnh lý hô hấp, hen suyễn cũng cần tránh xông hít tinh dầu sả ở nồng độ cao để phòng ngừa nguy cơ viêm phổi [7]. Khi có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc, người dân nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất kỳ loại thảo dược nào thường xuyên.

Cách áp dụng thực tế an toàn trong đời sống

Để bảo vệ dạ dày, nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất là phân biệt đúng giống sả trước khi chế biến. Chỉ sử dụng củ và lá của cây sả chanh (Cymbopogon citratus) được trồng làm gia vị thực phẩm để pha trà hoặc nấu ăn [1]. Không hái lá từ các bụi sả Sri Lanka (C. nardus) trồng làm cảnh, làm hàng rào đuổi muỗi hoặc nguyên liệu chưng cất tinh dầu để đun nước uống.

Khi pha trà từ sả chanh ăn được, bạn nên dùng lượng vừa phải (vài nhánh sả tươi đập dập hãm với nước sôi), uống ấm sau bữa ăn và kết hợp chế độ ăn uống cân bằng, uống đủ nước lọc. Tuyệt đối không nhỏ trực tiếp tinh dầu sả thương mại vào nước để uống. Với cây sả Sri Lanka và tinh dầu của nó, cách tận dụng tốt nhất đúng theo bằng chứng khoa học là dùng ngoài da, xịt đuổi muỗi ở nồng độ pha loãng khoảng 1% [4], hoặc ứng dụng trong các dung dịch ngâm rửa, vệ sinh bề mặt và dụng cụ nha khoa [3].

Tóm lại, sả Sri Lanka là dược liệu quý trong việc kháng khuẩn bề mặt và diệt muỗi truyền bệnh, nhưng không phải là nguyên liệu đã được kiểm chứng an toàn cho dạ dày khi pha trà. Để thức uống thảo mộc thực sự mang lại lợi ích sức khỏe, người tiêu dùng cần chọn đúng sả chanh ẩm thực, dùng ở mức độ vừa phải và tham khảo ý kiến bác sĩ nếu có bệnh lý tiêu hóa đi kèm.