Cúc mốc là loại cây cảnh quen thuộc, thường trồng trong chậu trước sân nhà hoặc bờ rào. Khi thời tiết giao mùa, nhiều người hái lá cúc mốc hãm trà hoặc sắc nước uống nhằm trị ho, nghẹt mũi và cảm mạo theo thói quen truyền miệng.

Tuy nhiên, việc tự ý dùng dược liệu này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sức khỏe. Người có cơ địa nhạy cảm, phụ nữ mang thai hoặc người mắc bệnh lý nền cần thận trọng, tránh biến chứng không mong muốn.

Dược liệu dân gian chứa nhiều hoạt chất sinh học mạnh

Nhiều người nghĩ cây cỏ tự nhiên luôn lành tính. Thực tế, cúc mốc (tên khoa học Crossostephium chinense) thuộc họ Cúc (Asteraceae) chứa nhiều hợp chất hóa thực vật phức tạp [1], [2].

Nghiên cứu hóa thực vật năm 2008 phân lập được tám hợp chất từ toàn cây cúc mốc, gồm taraxeryl acetate, taraxerol, alpha-amyrin acetate, beta-amyrin acetate, beta-sitosterol, 3beta-acetoxy-12-ursen-11-one, uracil và 5-O-methyl-myo-inositol [3]. Đến năm 2009, các nhà khoa học phát hiện thêm sesquiterpene mới mang tên crossostephin, hợp chất coumarin mới biscopoletin, cùng các chất như artesin, tanacetin, scopoletin và scopolin từ dịch chiết ethanol 70% của cây [4].

Năm 2023, nghiên cứu phân lập thêm hai hợp chất sesquiterpene mới là crossoseamines A và B, cùng một coumarin-glucoside và 18 chất đã biết khác từ phần thân trên mặt đất của cúc mốc [1]. Những thành phần này thể hiện độc tính tế bào rõ rệt trên các dòng thử nghiệm in vitro [1]. Điều này cho thấy cúc mốc tác động dược lý mạnh, dùng sai đối tượng dễ gây phản ứng bất lợi.

Người có cơ địa dị ứng các cây thuộc họ Cúc

Cúc mốc thuộc họ thực vật Asteraceae [1], [2]. Đây là nhóm thực vật chứa lượng lớn các hợp chất sesquiterpene lactone [1], [4]. Các chất này là tác nhân gây viêm da tiếp xúc, dị ứng niêm mạc hô hấp và kích ứng tiêu hóa.

Người từng dị ứng với ngải cứu (Artemisia), hoa cúc hoặc cỏ phấn hương đối mặt nguy cơ dị ứng chéo cao. Khi uống nước sắc cúc mốc, người dị ứng có thể ngứa ngáy, nổi mề đay, sưng mí mắt, co thắt phế quản hoặc khó thở.

Nếu có tiền sử dị ứng thực vật họ Cúc, tuyệt đối không thử uống hoặc xông hơi bằng lá cúc mốc để trị cảm mạo.

Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú

Phụ nữ mang thai thường hạn chế thuốc tây khi cảm cúm và tìm đến cây cỏ dân gian. Tuy nhiên, cúc mốc không an toàn cho thai kỳ.

Nghiên cứu công bố năm 2023 chỉ ra crossoseamines A và B trong cúc mốc có hoạt tính gây độc tế bào invitro [1]. Thử nghiệm cho thấy nồng độ ức chế 50% (IC50) của crossoseamines A đối với tế bào dòng A549 đạt 3,3 +- 0,3 mcg/mL, crossoseamines B đạt 12,3 +- 1,0 mcg/mL [1]. Các hợp chất này cũng ức chế tế bào ký sinh trùng Plasmodium falciparum với giá trị IC50 lần lượt là 12,1 +- 1,1 mcg/mL và 15,6 +- 1,2 mcg/mL [1].

Hoạt tính gây độc tế bào mạnh cùng các dẫn xuất coumarin, scopoletin, scopolin [4] có thể ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình phân chia phôi và lưu lượng máu tử cung. Dữ liệu an toàn trên phụ nữ mang thai và bài tiết qua sữa mẹ chưa được nghiên cứu lâm sàng. Nhóm đối tượng này không tự ý dùng cúc mốc.

Người mắc bệnh lý nền tim mạch, gan hoặc thận

Người mắc bệnh mạn tính về tim mạch, huyết áp, xơ gan hoặc suy thận cần tránh dùng cúc mốc tùy tiện. Cây chứa nhiều hợp chất tự nhiên như coumarin, scopoletin và biscopoletin [4].

Nhóm chất coumarin tác động trực tiếp lên hệ tuần hoàn, can thiệp vào quá trình đông máu và tương tác thuốc kháng đông. Bệnh nhân tim mạch đang dùng thuốc điều trị nếu uống nước cúc mốc dễ bị biến đổi thời gian đông máu, tăng nguy cơ xuất huyết.

Hoạt chất sesquiterpene và dẫn xuất steroid như beta-sitosterol, alpha-amyrin acetate [3] cần được chuyển hóa qua gan và lọc qua thận. Gan, thận suy giảm chức năng khó đào thải các chất này, gây tích tụ độc chất và tổn thương tế bào gan.

Trẻ nhỏ và người có thể trạng suy nhược, tiêu hóa kém

Trẻ nhỏ có gan và thận chưa hoàn thiện về mặt chức năng chuyển hóa. Sử dụng dược liệu chứa hoạt tính độc tế bào [1] và tinh dầu mạnh dễ gây ngộ độc tiêu hóa, nôn mửa hoặc tiêu chảy.

Người già yếu, tỳ vị hư hàn hoặc tiêu hóa kém khi dùng cúc mốc dễ bị lạnh bụng, đầy hơi. Các hợp chất đắng từ sesquiterpene [4] gây kích thích niêm mạc dạ dày nhạy cảm.

Hiệu quả trị cảm cúm của cúc mốc hiện chỉ dựa trên kinh nghiệm dân gian. Chưa có thử nghiệm lâm sàng trên người xác nhận liều lượng chuẩn cho trẻ em hoặc người suy nhược.

Hiểu lầm thường gặp và giới hạn bằng chứng khoa học

Hiểu lầm phổ biến là xem cúc mốc mọc vườn nhà hoàn toàn lành tính, uống thay trà hằng ngày giúp ngừa bệnh. Dược liệu chứa nhiều hợp chất thứ cấp bảo vệ tự nhiên, mang độc tính sinh học nhất định trên tế bào [1].

Các nghiên cứu khoa học hiện nay về cúc mốc (Crossostephium chinense) chủ yếu tập trung vào:

  • Phân lập hóa học nhận diện hợp chất mới [1], [4], [3].
  • Đánh giá độc tính tế bào trên ống nghiệm đối với ký sinh trùng Leishmania major, Plasmodium falciparum và dòng tế bào A549 [1].
  • Đặc điểm di truyền, chỉ thị phân tử microsatellite phục vụ bảo tồn thực vật [2], [5].
  • Cơ chế chịu mặn và lai tạo giống cây trồng chịu hạn mặn [6], [7].

Chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên trên người về hiệu quả và độ an toàn của cúc mốc trong trị cảm mạo. Dữ liệu liều lượng an toàn trên người hoàn toàn thiếu vắng.

Lời khuyên áp dụng thực tế khi bị cảm mạo

Khi xuất hiện triệu chứng cảm mạo như ho, nghẹt mũi, nhức đầu:

  • Người thuộc 4 nhóm chống chỉ định nêu trên không uống cúc mốc.
  • Thay vào đó, áp dụng các biện pháp an toàn: nghỉ ngơi, uống đủ nước ấm, súc họng bằng nước muối sinh lý 0,9%.
  • Nếu sốt cao kéo dài hoặc khó thở, đến cơ sở y tế để được khám và kê đơn đúng phác đồ.
  • Không tự ý thu hái cây cỏ quanh nhà sắc uống đậm đặc khi chưa rõ liều lượng và độc tính.

Cúc mốc là cây thuốc dân gian giàu tiềm năng hóa thực vật nhưng chứa hoạt tính sinh học mạnh. Sử dụng bừa bãi khi có bệnh lý nền hoặc thể trạng nhạy cảm lợi bất cập hại.