Nhiều người thường chú ý đến vitamin C, D hoặc canxi mà quên mất vitamin K, dưỡng chất giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ đông máu và chuyển hóa xương. Tình trạng thiếu hụt vitamin K ít khi xảy ra ở người khỏe mạnh ăn uống đầy đủ nhưng lại rất phổ biến ở những đối tượng có bệnh lý nền [1, 2].
Hiểu đơn giản, nếu cơ thể thiếu vitamin K, bạn sẽ có nguy cơ xuất huyết kéo dài, bầm tím bất thường và suy giảm sức khỏe xương [1, 5]. 5 nhóm người dưới đây có nguy cơ cao bị thiếu hụt loại vitamin thiết yếu này.
Vai trò của vitamin K và nguyên nhân dễ thiếu hụt
Vitamin K là vi chất thiết yếu tham gia vào quá trình đông máu, chuyển hóa xương, ngăn lắng đọng canxi tại mô và chống oxy hóa [1]. Khi thiếu hụt vitamin K, cơ thể không thể sản xuất đủ các yếu tố đông máu cần thiết, dẫn đến chảy máu khó cầm [1, 2].
Vitamin K là loại vitamin tan trong chất béo, cần có dịch mật và chức năng hấp thu của ruột để đi vào máu [6, 8]. Hệ vi khuẩn đường ruột cũng góp phần tham gia quá trình này [1]. Vì vậy, bất kỳ vấn đề nào ảnh hưởng đến tiêu hóa mỡ, hệ vi sinh đường ruột hoặc chức năng gan đều khiến lượng vitamin K sụt giảm nghiêm trọng [1, 6].
Người mắc chứng kém hấp thu chất béo
Vitamin K hòa tan trong dầu mỡ, do đó cần lipid để được hấp thu qua niêm mạc ruột non [6, 8]. Những người bị rối loạn tiêu hóa mỡ hoặc có bệnh lý tại ruột rất dễ bị thiếu hụt vi chất này [1, 6].
Bệnh xơ nang (cystic fibrosis) là ví dụ điển hình gây suy giảm hấp thu dưỡng chất do suy tụy [2]. Một nghiên cứu năm 2018 trên 79 bệnh nhân xơ nang (độ tuổi 0,4 đến 25,3) chưa bổ sung vitamin K cho thấy: 56 bệnh nhân (chiếm 70,9%) có mức protein PIVKA-II bất thường và 45 bệnh nhân (chiếm 57,0%) có tỷ lệ osteocalcin chưa carboxyl hóa (u-OC) bất thường [3]. Những người có chỉ số PIVKA-II tăng cao thường lớn tuổi hơn và có chỉ số Z-score cân nặng thấp hơn, phản ánh tình trạng dinh dưỡng kém [3]. Phẫu thuật cắt đoạn ruột non rộng cũng là nguyên nhân trực tiếp làm giảm diện tích hấp thu vitamin K [2].
Bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính
Gan là cơ quan sản xuất dịch mật giúp nhũ hóa chất béo để hấp thu các vitamin tan trong dầu, đồng thời là nơi tổng hợp các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K [6, 8]. Khi chức năng gan suy giảm, quá trình này bị đình trệ [6, 8].
Trong một phân tích năm 2001 trên 180 bệnh nhân xơ gan ứ mật nguyên phát (PBC), tỷ lệ thiếu hụt vitamin K được ghi nhận là 7,8% [4]. Phân tích đơn biến chỉ ra các yếu tố liên quan đến thiếu vitamin K gồm điểm nguy cơ Mayo, giai đoạn mô học tiến triển, nồng độ HDL, bilirubin toàn phần, men gan AST và albumin máu [4]. Đánh giá tổng quan năm 1994 cũng ghi nhận bệnh gan ứ mật hoặc không ứ mật mức độ nặng là yếu tố rủi ro cao gây thiếu hụt vitamin K [2].
Người dùng kháng sinh kéo dài
Hệ vi sinh đường ruột đóng vai trò điều hòa nồng độ vitamin K tự nhiên trong cơ thể [1]. Khi sử dụng thuốc kháng sinh kéo dài hoặc liều cao, các lợi khuẩn đường ruột bị tiêu diệt, dẫn đến suy giảm nguồn cung vi chất này [1, 6].
Tổng quan năm 2024 chỉ ra rằng việc sử dụng kháng sinh là một trong những nguyên nhân chính liên quan đến thiếu hụt vitamin K và làm gián đoạn hệ vi sinh vật đường ruột ở bệnh nhân hồi sức tích cực [1]. Một tổng kết lâm sàng 13 trường hợp năm 1977 cũng nhấn mạnh việc dùng kháng sinh kết hợp với chế độ ăn uống thiếu thốn làm gia tăng đáng kể nguy cơ rối loạn đông máu [5].
Bệnh nhân chăm sóc tích cực và sau phẫu thuật
Bệnh nhân nằm tại khoa hồi sức tích cực (ICU) hoặc vừa trải qua phẫu thuật lớn có nguy cơ thiếu vitamin K rất cao do suy dinh dưỡng, rối loạn hấp thu và tăng nhu cầu chuyển hóa [1, 2].
Một nghiên cứu tiến cứu năm 2002 theo dõi 40 bệnh nhân ICU cho thấy có 10 người (chiếm 25%) bị thiếu hụt vitamin K, trong đó 7 người bị thiếu ngay khi nhập viện và 3 người phát triển thiếu hụt sau đó [6]. Có 2 bệnh nhân xuất hiện rối loạn đông máu với chỉ số INR lớn hơn 1,4, và nồng độ D-dimer tăng cao ở 86/111 mẫu xét nghiệm [6]. Đánh giá năm 2024 từ 13 nghiên cứu trên bệnh nhân ICU trưởng thành cũng chỉ ra thiếu hụt vitamin K liên quan đến tình trạng dinh dưỡng kém, thở máy kéo dài và gia tăng tỷ lệ tử vong [1]. Ngoài ra, các biến chứng xuất huyết nghiêm trọng đặc biệt hay gặp ở bệnh nhân sau phẫu thuật [5].
Trẻ sơ sinh và người suy dinh dưỡng nặng
Trẻ sơ sinh có lượng dự trữ vitamin K trong gan rất thấp và hệ vi khuẩn ruột chưa hoàn thiện, tạo thành nhóm nguy cơ cao thường được khuyến nghị theo dõi y tế chuyên biệt [2]. Tình trạng thiếu ăn, kiêng khem quá mức hoặc dinh dưỡng kém ở mọi lứa tuổi cũng làm suy kiệt nguồn vitamin dự trữ [1, 2].
Một đánh giá 13 ca lâm sàng năm 1977 chỉ ra rằng thiếu hụt trong chế độ ăn luôn là yếu tố nền tảng hiện diện ở các trường hợp rối loạn đông máu [5]. Bên cạnh đó, bệnh nhân ung thư hoặc suy thận giai đoạn nặng cũng được ghi nhận là đối tượng có nguy cơ cao [5].
Biến chứng khi thiếu vitamin K
Hậu quả cấp tính rõ ràng nhất của thiếu vitamin K là rối loạn đông máu, gây xuất huyết bất thường dưới da, niêm mạc hoặc chảy máu nội tạng [1, 2, 5].
Về lâu dài, thiếu hụt vitamin K còn ảnh hưởng tiêu cực đến hệ xương khớp. Tổng quan năm 2012 cho biết nồng độ vitamin K1 thấp, lượng hấp thu qua chế độ ăn ít và nồng độ osteocalcin tự do cao đều có mối liên hệ nghịch với nguy cơ gãy xương và loãng xương [7]. Tình trạng thiếu hụt vi chất này cũng liên quan đến gia tăng lắng đọng canxi tại mô và vôi hóa động mạch vành [1, 4].
Ai nên thận trọng và cách bổ sung an toàn
Việc bổ sung vitamin K liều cao không thể thực hiện tùy tiện, đặc biệt với những người đang sử dụng thuốc chống đông máu.
Người mắc bệnh lý nền cần lưu ý:
- Người dùng thuốc chống đông (như warfarin) cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thay đổi lượng vitamin K nạp vào, tránh làm mất tác dụng của thuốc [7].
- Bệnh nhân suy gan, bệnh thận mạn tính hoặc bệnh xơ nang cần được nhân viên y tế thăm khám, xét nghiệm đông máu trước khi kê đơn bổ sung đường uống hay tiêm [2, 6, 8].
Cách áp dụng thực tế:
- Tăng cường thực phẩm giàu vitamin K1 qua các loại rau lá xanh đậm như cải bó xôi, cải xoăn, súp lơ.
- Khi ăn rau xanh, nên kết hợp với một lượng nhỏ dầu thực vật hoặc chất béo tốt để tăng cường khả năng hòa tan và hấp thu vi chất.
- Người phải dùng kháng sinh dài ngày hoặc điều trị bệnh tiêu hóa cần theo dõi các dấu hiệu chảy máu chân răng, bầm tím không rõ nguyên nhân để báo ngay cho bác sĩ điều trị.
Tóm lại, vitamin K là dưỡng chất thiết yếu nhưng thường bị xem nhẹ cho đến khi biến chứng xuất huyết xuất hiện. Việc nhận biết sớm các nhóm có nguy cơ cao giúp chúng ta chủ động tầm soát và điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hợp lý dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.










