Nhiều người có thói quen chọn lon nước ngọt ăn kiêng thay cho nước ngọt thông thường với niềm tin bảo vệ sức khỏe và kiểm soát cân nặng. Tuy nhiên, thông tin chất tạo ngọt nhân tạo aspartame có nguy cơ gây ung thư khiến không ít người tiêu dùng hoang mang và lo lắng.

Liệu aspartame có thực sự gây ung thư hay không? Câu trả lời ngắn gọn: Các cơ quan an toàn thực phẩm uy tín như Ủy ban Chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO/JECFA) khẳng định aspartame an toàn khi dùng trong giới hạn cho phép, dù cơ quan nghiên cứu ung thư (IARC) xếp chất này vào nhóm "có thể gây ung thư" dựa trên bằng chứng còn hạn chế [1].

Phân biệt "nguy cơ tiềm ẩn" và "rủi ro thực tế"

Sự bất đồng giữa các thông báo y tế xuất phát từ cách tiếp cận chuyên môn khác nhau giữa các tổ chức quốc tế. Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) vào tháng 7 năm 2023 đã xếp aspartame vào Nhóm 2B, tức nhóm "có thể gây ung thư cho người" [1]. Xếp loại này của IARC chỉ nhằm nhận diện mối nguy tiềm ẩn trên lý thuyết mà không tính toán mức độ phơi nhiễm thực tế gây hại [1].

Ngược lại, Ủy ban Chuyên gia về Phụ gia Thực phẩm của FAO/WHO (JECFA) và Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) lại thực hiện đánh giá rủi ro toàn diện [1]. Sau khi xem xét toàn bộ bằng chứng khoa học, bao gồm cả những tài liệu do IARC sử dụng, JECFA kết luận không có bằng chứng xác đáng cho thấy aspartame gây ung thư ở người [1]. JECFA tái khẳng định aspartame an toàn khi người dùng duy trì dưới mức tiêu thụ hàng ngày chấp nhận được (ADI) đã được thiết lập từ trước [1].

Đánh giá của IARC chỉ dựa trên một nhóm nghiên cứu chọn lọc liên quan đến khả năng gây ung thư, trong khi JECFA và EFSA kết hợp dữ liệu độc chất học, dịch tễ học và cơ chế sinh học [1]. Do đó, các cơ quan an toàn thực phẩm tiếp tục cho phép sử dụng aspartame trong ngưỡng quy định [1].

Cơ chế tác động và những giả thuyết sinh học

Aspartame (L-alpha-aspartyl-L-phenylalanine methyl ester) là chất tạo ngọt tổng hợp có độ ngọt gấp hàng trăm lần đường kính thông thường. Khi đi vào cơ thể, chất này bị phân giải thành các sản phẩm chuyển hóa [4, 6]. Mối lo ngại ung thư nảy sinh khi các nhà nghiên cứu tìm hiểu tác động của các sản phẩm này lên quá trình trao đổi chất tế bào [2].

Nghiên cứu độc chất học mạng lưới và cập bến phân tử năm 2024 chỉ ra aspartame có khả năng tương tác với các protein đích liên quan đến ung thư dạ dày [3]. Nghiên cứu mô tả mô hình tác động của aspartame có nét tương đồng với cơ chế của các con đường sinh ung thư đã biết, can thiệp vào chức năng phân tử sinh học [3]. Tuy nhiên, các tác giả nhấn mạnh đây mới là các quan sát mức độ phân tử và máy tính, cần được kiểm chứng sinh học thực tế [3].

Một nghiên cứu mô hình hóa khác công bố năm 2025 kết hợp mạng lưới độc chất học và ngẫu nhiên hóa Mendel phát hiện aspartame liên kết chặt chẽ với protein CASP1 với ái lực liên kết đạt mức -18,45 kJ/mol [4]. Nghiên cứu này ghi nhận qua mô phỏng 50 nano giây (ns), phức hợp aspartame và CASP1 duy trì độ ổn định liên kết tốt, đồng thời kích hoạt các con đường tín hiệu như hoại tử tế bào (necroptosis), NF-kappaB và TNF, vốn liên quan đến sự phát triển ung thư gan [4]. Nền tảng dự đoán cũng ghi nhận aspartame có thể gây độc thần kinh, độc thận và độc gan trên mô hình máy tính [4].

Các nghiên cứu trên người ghi nhận điều gì?

Dữ liệu dịch tễ học theo dõi cộng đồng người dùng aspartame thực tế ghi nhận nhiều kết quả trái ngược nhau trong nhiều năm qua.

Nghiên cứu đoàn hệ NutriNet-Santé tại Pháp công bố năm 2022 theo dõi 102.865 người trưởng thành từ năm 2009 đến 2021 với thời gian theo dõi trung vị 7,8 năm [5]. Kết quả cho thấy nhóm tiêu thụ chất tạo ngọt nhân tạo trên mức trung vị có nguy cơ mắc ung thư tổng thể cao hơn nhóm không dùng với tỷ số nguy cơ (HR) là 1,13 (95% CI 1,03 - 1,25; p-trend = 0,002) [5]. Riêng aspartame có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư tổng thể với HR là 1,15 (95% CI 1,03 - 1,28; p = 0,002), và làm tăng nguy cơ ung thư vú với 979 ca bệnh (HR = 1,22; 95% CI 1,01 - 1,48) [5].

Trước đó, nghiên cứu dịch tễ năm 2012 tổng hợp từ hai đoàn hệ lớn là Nghiên cứu Sức khỏe Y tá (NHS) và Nghiên cứu Theo dõi Nhân viên Y tế (HPFS) thực hiện suốt 22 năm [6]. Các nhà khoa học đã ghi nhận 1.324 ca u lympho không Hodgkin, 285 ca đa u tủy xương và 339 ca ung thư bạch cầu [6]. Ở nhóm nam giới uống từ 1 khẩu phần nước ngọt ăn kiêng mỗi ngày trở lên, nguy cơ u lympho không Hodgkin tăng với nguy cơ tương đối (RR) là 1,31 (95% CI 1,01 - 1,72) và đa u tủy xương tăng với RR là 2,02 (95% CI 1,20 - 3,40) [6]. Phụ nữ dùng nước ngọt ăn kiêng không ghi nhận mức tăng này [6]. Khi gộp cả nam và nữ, việc uống từ 1 khẩu phần mỗi ngày tăng nguy cơ ung thư bạch cầu với RR là 1,42 (95% CI 1,00 - 2,02) [6]. Tuy nhiên, nguy cơ u lympho không Hodgkin cũng tăng ở nam giới uống nước ngọt có đường (RR = 1,66; 95% CI 1,10 - 2,51), nên nhóm nghiên cứu kết luận không thể loại trừ khả năng các mối liên hệ này do ngẫu nhiên [6].

Đánh giá tổng quan năm 2013 điểm lại nhiều công trình từ năm 1990 đến năm 2012 cho thấy nhiều cơ quan kiểm định xác nhận tính an toàn qua hơn 30 năm lưu hành [7]. Nghiên cứu NIH-AARP Diet and Health Study cùng nhiều nghiên cứu bệnh - chứng tại Mỹ ghi nhận aspartame không liên quan đến u mô tạo máu hay ung thư não [7]. Các nghiên cứu khác tại Mỹ, Đan Mạch và Ý từ 1991 đến 2008 không tìm thấy mối liên hệ nhất quán giữa aspartame với ung thư tụy, ung thư vú, ống tiêu hóa trên, đại tràng, nội mạc tử cung, buồng trứng, tuyến tiền liệt hoặc thận [7].

Bằng chứng từ phòng thí nghiệm và nghiên cứu động vật

Các thử nghiệm trên động vật gặm nhấm cũng từng gây ra nhiều cuộc tranh luận chuyên môn gay gắt trong cộng đồng y khoa.

Viện Ramazzini (Ý) từng báo cáo năm 2006 và 2007 rằng aspartame gây tăng khối u ác tính ở nhiều cơ quan trên chuột cống và chuột nhắt theo mức liều, thậm chí ở mức liều thấp tiến gần ngưỡng ADI [8]. Phơi nhiễm thời kỳ tiền sản còn làm tăng nguy cơ xuất hiện khối u ác tính ở chuột con ở liều thấp hơn chuột trưởng thành [8]. Sau khi bị chỉ trích rằng tổn thương phổi ở chuột có thể do nhiễm vi khuẩn Mycoplasma chứ không phải u lympho, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích lại [8].

Năm 2021, Viện Ramazzini thực hiện nhuộm hóa mô miễn dịch và đánh giá lại hình thái học theo tiêu chuẩn INHAND hiện đại đối với toàn bộ khối u mô lympho và tạo máu [8]. Kết quả xác nhận 92,3% chẩn đoán ác tính ban đầu là chính xác, 8% tổn thương được phân loại lại thành tăng sản lympho hoặc viêm mạn tính kèm xơ hóa, và không tìm thấy bằng chứng nhiễm Mycoplasma [8]. Nhóm nghiên cứu khẳng định aspartame là chất gây ung thư hóa học trên loài gặm nhấm [8]. Tuy nhiên, các kết quả này khi đối chiếu trên cơ thể người vẫn chưa đạt được sự đồng thuận từ các cơ quan an toàn thực phẩm toàn cầu [1].

Giới hạn của bằng chứng và những hiểu lầm thường gặp

Mặc dù có nhiều báo cáo cảnh báo, bức tranh nghiên cứu về aspartame vẫn chưa có sự thống nhất và tồn tại nhiều khoảng trống [1, 6].

Nhiều nghiên cứu liên kết chất tạo ngọt với ung thư dễ vướng các nguồn sai số hệ thống [1]. Trong đó nổi bật là sai lệch lựa chọn, các yếu tố gây nhiễu chưa được kiểm soát hết, và hiện tượng nhân quả ngược: những người thừa cân, béo phì thường có xu hướng chuyển sang dùng chất tạo ngọt ăn kiêng, trong khi chính tình trạng thừa cân lại là yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư và bệnh tim mạch [1].

Bên cạnh đó, việc suy diễn kết quả từ phòng thí nghiệm mô phỏng máy tính hay từ cơ thể loài gặm nhấm lên người là một hiểu lầm phổ biến [4, 7]. Hệ thống chuyển hóa sinh học ở người có sự khác biệt lớn so với động vật gặm nhấm, và các mô hình tế bào nhân tạo chưa tái hiện được sự phức tạp của cơ thể sống [4, 6]. Đánh giá tổng quan năm 2025 chỉ ra rằng dù xuất hiện trên thị trường hàng chục năm, thế giới vẫn thiếu các nghiên cứu đối chứng thuyết phục để khuyến khích hoặc ngăn cấm người dân dùng chất tạo ngọt không dinh dưỡng dài hạn [1].

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Aspartame được cấu thành từ axit aspartic và phenylalanine. Với người mắc bệnh di truyền hiếm gặp Phenylketon niệu (PKU), cơ thể không thể chuyển hóa phenylalanine, khiến chất này tích tụ và gây hại nghiêm trọng cho hệ thần kinh. Vì vậy, người mắc PKU bắt buộc phải tránh hoàn toàn các thực phẩm chứa aspartame.

Ngoài ra, phụ nữ mang thai và trẻ em là những đối tượng nhạy cảm cần cân nhắc thận trọng [8]. Nghiên cứu trên động vật cho thấy phơi nhiễm tiền sản với aspartame làm chuột con nhạy cảm hơn với nguy cơ tạo khối u [8]. Khi chưa có khẳng định hoàn toàn về tác động dài hạn đối với thai kỳ, phụ nữ có thai nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để lựa chọn chế độ dinh dưỡng an toàn nhất.

Áp dụng thực tế để bảo vệ sức khỏe

Để sử dụng chất tạo ngọt nhân tạo một cách hợp lý và giảm thiểu lo ngại, người tiêu dùng có thể thực hiện theo các lưu ý sau:

  • Kiểm tra nhãn thực phẩm: Aspartame thường mang ký hiệu phụ gia thực phẩm là E951 trên bao bì [5]. Việc đọc kỹ thành phần giúp người tiêu dùng kiểm soát được nguồn chất tạo ngọt nạp vào cơ thể.
  • Tuân thủ ngưỡng an toàn: Duy trì lượng nạp dưới mức khuyến nghị ADI của các tổ chức y tế quốc tế [1]. Người dùng thông thường với một vài ly nước giải khát ăn kiêng mỗi tuần khó có thể vượt qua ngưỡng rủi ro cho phép.
  • Không coi nước ngọt ăn kiêng là giải pháp giảm cân thần kỳ: Nghiên cứu trên động vật từng ghi nhận chất tạo ngọt có thể làm tăng lượng ăn và tăng cân nhiều hơn so với nước ngọt có đường [1]. Nước ngọt không đường không thể thay thế cho chế độ ăn uống khoa học.
  • Ưu tiên thực phẩm nguyên bản: Thay vì phụ thuộc vào các sản phẩm chế biến sẵn gắn mác "diet" hay "zero calories", độc giả nên tập thói quen uống nước lọc, nước khoáng hoặc trà thảo mộc tự nhiên.

Nhìn chung, aspartame hiện vẫn được các cơ quan an toàn thực phẩm như WHO/JECFA công nhận là an toàn khi dùng trong liều lượng cho phép [1]. Người tiêu dùng không cần quá hoang mang, nhưng việc tiết chế chất tạo ngọt nhân tạo và xây dựng lối sống lành mạnh với thực phẩm tự nhiên luôn là lựa chọn tối ưu. Nếu có bệnh lý nền, hãy trao đổi trực tiếp với bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để được hướng dẫn cụ thể.