Mỗi khi thời tiết thay đổi, cảm giác ngứa rát cổ họng, hắt hơi hay nghẹt mũi thường là dấu hiệu cảnh báo một đợt cảm lạnh đang ập đến. Trong số các biện pháp truyền tai nhau, ngậm kẽm ngay khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên được nhiều người xem như bí quyết cắt cơn ốm thần tốc.

Các nghiên cứu khoa học cho thấy viên ngậm kẽm thực sự có khả năng rút ngắn thời gian mắc bệnh cảm lạnh, nhưng hiệu quả này phụ thuộc rất lớn vào thời điểm bắt đầu sử dụng, hàm lượng kẽm nguyên tố và công thức điều chế của viên ngậm. Nếu dùng sai cách hoặc chọn sai loại sản phẩm, người dùng vừa không đạt được lợi ích mong muốn, vừa có thể gặp phải các tác dụng phụ khó chịu trên đường tiêu hóa.

Cơ chế: Kẽm tác động lên virus đường hô hấp như thế nào?

Sự chú ý dành cho viên ngậm kẽm trong điều trị cảm lạnh bắt nguồn từ một trường hợp vào năm 1984, khi các triệu chứng cảm lạnh của một bé gái 3 tuổi mắc bệnh bạch cầu biến mất chỉ sau vài giờ ngậm tan một viên kẽm thay vì nuốt trọn theo chỉ dẫn [1]. Quan sát này mở ra giả thuyết rằng sự hòa tan chậm rãi của kẽm ngay trong khoang miệng và vùng hầu họng mang lại tác động tại chỗ quan trọng hơn việc hấp thu qua dạ dày [1].

Về mặt sinh học phân tử, dạng kẽm mang điện tích dương, hay kẽm ion tự do, mới chính là thành phần hoạt tính tạo nên tác động kháng virus [2]. Kẽm ion có tính làm se niêm mạc mạnh, có khả năng ức chế virus gây cảm lạnh (rhinovirus) và ngăn chặn phân tử kết dính liên bào ICAM-1, vốn là thụ thể tiếp nhận virus xâm nhập vào niêm mạc đường hô hấp [2].

Bên cạnh đó, nghiên cứu cho thấy kẽm ion tự do có thể làm tăng lượng interferon-gamma lên gấp 10 lần, đồng thời ức chế tế bào mast giải phóng các hóa chất trung gian gây giãn mạch và viêm nhiễm [2]. Chính những tác động tổng hợp này giúp ngăn chặn sự nhân lên của virus và giảm bớt các phản ứng viêm cục bộ tại vùng họng ngay khi virus vừa xâm nhập.

Bằng chứng khoa học: Các nghiên cứu nói gì về hiệu quả thực tế?

Hiệu quả lâm sàng của viên ngậm kẽm đã được kiểm chứng qua nhiều thập kỷ với các kết quả ban đầu từng gây nhiều tranh luận. Vào năm 1998, một tổng quan y văn rà soát 8 thử nghiệm lâm sàng mù đôi, có đối chứng với giả dược cho thấy có 4 thử nghiệm khẳng định viên ngậm kẽm hiệu quả, trong khi 4 thử nghiệm còn lại không ghi nhận sự khác biệt [3]. Sự bất đồng này được giải thích là do thiết kế đối chứng giả dược chưa tối ưu, liều lượng kẽm chưa đủ hoặc công thức viên ngậm chưa chuẩn [3].

Đến năm 2000, một tổng quan hệ thống gồm 7 thử nghiệm với 754 trường hợp ghi nhận hai nghiên cứu chỉ ra kẽm giúp giảm mức độ nghiêm trọng và thời gian mắc bệnh, nhưng đánh giá chung khi đó vẫn cho rằng bằng chứng chưa đủ kết luận do nguy cơ sai lệch và sự khác biệt trong cách đo lường [4]. Nghiên cứu này sau đó cũng được lưu ý trong một tài liệu tổng quan rút lại năm 2007 với cùng nhận định về sự thiếu đồng nhất giữa các thử nghiệm lâm sàng trước năm 1998 [5].

Tuy nhiên, các phân tích gộp hiện đại với tiêu chí chọn lọc chặt chẽ hơn đã làm sáng tỏ bức tranh này. Một phân tích gộp năm 2017 trên 7 thử nghiệm ngẫu nhiên với 575 người tham gia bị cảm lạnh tự nhiên cho thấy thời gian mắc cảm lạnh trung bình giảm 33% ở nhóm dùng viên ngậm kẽm liều trên 75 mg mỗi ngày [1]. Trong đó, các thử nghiệm dùng kẽm acetate giúp rút ngắn 40% thời gian bệnh, còn kẽm gluconate giúp rút ngắn 28% thời gian bệnh [1].

Hiệu quả nhất quán này cũng được khẳng định trong một phân tích dữ liệu từng bệnh nhân năm 2016 trên 199 người mắc cảm lạnh [6]. Kết quả cho thấy viên ngậm kẽm acetate giúp giảm trung bình 2,73 đến 2,94 ngày ốm so với thời gian mắc bệnh thông thường là 7 ngày [6]. Đáng chú ý, hiệu quả rút ngắn ngày ốm diễn ra đồng đều và không bị chi phối bởi tình trạng dị ứng, thói quen hút thuốc, độ tuổi, giới tính hay mức độ nghiêm trọng của bệnh lúc khởi phát [6].

Liều lượng quyết định: Dưới 75 mg mỗi ngày gần như vô hiệu

Một trong những lý do khiến nhiều người ngậm kẽm nhưng không thấy tác dụng là do sử dụng hàm lượng quá thấp. Một tổng quan hệ thống năm 2011 phân tích 13 thử nghiệm có đối chứng giả dược đã chỉ ra sự khác biệt rõ rệt dựa trên tổng liều lượng kẽm hàng ngày [7].

Nghiên cứu ghi nhận 5 thử nghiệm sử dụng tổng liều kẽm hàng ngày dưới 75 mg đều đồng loạt không cho thấy bất kỳ tác dụng rút ngắn ngày ốm nào [7]. Ngược lại, ở những thử nghiệm dùng liều trên 75 mg mỗi ngày, kẽm acetate giúp giảm tới 42% thời gian mắc bệnh, còn các muối kẽm khác giúp giảm 20% thời gian bệnh [7].

Dù liều cao mang lại tác dụng vượt trội so với liều thấp, việc tăng liều lên mức quá cao lại không mang lại thêm lợi ích. Phân tích năm 2017 so sánh giữa nhóm dùng liều 80-92 mg/ngày (giảm 33% thời gian bệnh) và nhóm dùng liều rất cao 192-207 mg/ngày (giảm 35% thời gian bệnh) cho thấy sự chênh lệch 2% này không có ý nghĩa thống kê [1]. Các nhà nghiên cứu kết luận không có bằng chứng nào chứng minh việc nạp trên 100 mg kẽm mỗi ngày sẽ đem lại hiệu quả điều trị cảm lạnh cao hơn [1].

Không phải dạng kẽm nào cũng mang lại tác dụng như nhau

Hiệu quả của viên ngậm phụ thuộc trực tiếp vào khả năng giải phóng ion kẽm tự do vào nước bọt khi ngậm. Ở độ pH sinh lý 7,4 trong khoang miệng, kẽm acetate giải phóng 100% ion kẽm tự do, trong khi kẽm gluconate giải phóng khoảng 72% ion kẽm tự do, còn các hợp chất kẽm khác giải phóng rất ít hoặc hoàn toàn không giải phóng ion [2].

Nhiều nhà sản xuất thường bổ sung các chất điều vị để che giấu vị chát tự nhiên của kẽm, nhưng điều này vô tình làm mất tác dụng của sản phẩm. Các chất phụ gia như axit citric hoặc axit tartaric sẽ tạo phức chelat gắn kết chặt với kẽm, khiến ion kẽm không thể giải phóng tự do để tác động lên virus [3].

Số liệu phân tích cho thấy các viên ngậm chứa phụ gia tạo phức nhiều phối tử khiến thời gian bệnh giảm trung bình bằng 0 ngày, trong khi các viên ngậm đơn phối tử không bị cản trở giúp giảm trung bình tới 3,37 ngày mắc bệnh [2]. Trong số các thử nghiệm sử dụng viên ngậm có hằng số bền tạo phức từ 1,7 trở xuống, có tới 5 trên 6 thử nghiệm thành công, trái ngược với tỷ lệ thành công chỉ 2 trên 9 thử nghiệm ở những loại có độ bền tạo phức cao hơn [2].

Bệnh kéo dài hưởng lợi nhiều hơn cảm lạnh thoáng qua

Mặc dù các báo cáo thường đưa ra con số rút ngắn thời gian trung bình khoảng 2,7 đến 4 ngày, tác động thực tế của viên ngậm kẽm lại phân bổ không đồng đều giữa các mức độ kéo dài của bệnh [8]. Phương pháp phân tích tác động điều trị theo phân vị (QTE) vào năm 2022 đã làm rõ sự khác biệt thú vị này [8].

Khi phân tích lại dữ liệu thử nghiệm, các nhà khoa học nhận thấy ở những cơn cảm lạnh kéo dài từ 15 đến 17 ngày, việc sử dụng viên ngậm kẽm giúp rút ngắn thời gian bệnh tới 8 ngày [8]. Ngược lại, đối với những đợt cảm nhẹ chỉ kéo dài thoáng qua trong khoảng 2 ngày, viên ngậm kẽm chỉ rút ngắn được vỏn vẹn 1 ngày [8].

Hiện tượng tương tự cũng được ghi nhận khi phân tích gộp các thử nghiệm dùng kẽm acetate, cho thấy con số giảm trung bình 2,7 ngày không phản ánh đúng cho mọi trường hợp [8]. Điều này đồng nghĩa với việc những người có cơ địa dễ bị viêm đường hô hấp dai dẳng có thể nhận được lợi ích rõ rệt hơn nhiều so với những người chỉ ốm nhẹ trong vài ngày.

Những hiểu lầm phổ biến khi dùng kẽm trị cảm

Hiểu lầm thường gặp nhất là việc nuốt chửng cả viên kẽm với nước như các loại thuốc bổ thông thường. Tác dụng kháng rhinovirus của kẽm đòi hỏi nồng độ ion kẽm cao tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc vòm họng [1], [2]. Nếu nuốt trọn viên thuốc, kẽm sẽ đi thẳng xuống dạ dày, mất đi cơ hội tiếp xúc tại chỗ và không thể phát huy khả năng ức chế virus ở đường hô hấp trên.

Một sai lầm khác là chờ đến khi các triệu chứng cảm lạnh đã trở nên nặng nề mới bắt đầu sử dụng kẽm. Bằng chứng y khoa nhấn mạnh lợi ích của viên ngậm kẽm chỉ đạt mức tối đa nếu được dùng ngay lập tức khi những triệu chứng đầu tiên vừa xuất hiện [3]. Khi virus đã xâm nhập sâu và nhân lên ồ ạt trong nhiều ngày, việc ngậm kẽm sẽ giảm bớt đáng kể hiệu quả.

Nhiều người cũng lầm tưởng rằng kẽm có thể dùng để phòng ngừa cảm lạnh hàng ngày với liều cao. Mặc dù việc bổ sung kẽm ở các quốc gia đang phát triển giúp giảm nguy cơ cảm lạnh và viêm phổi ở trẻ em bị thiếu hụt vi chất [7], việc tự ý duy trì viên ngậm kẽm liều cao liên tục khi không có bệnh là không cần thiết và tiềm ẩn rủi ro sức khỏe.

Tác dụng phụ và những đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Mặc dù mang lại lợi ích trong đợt cảm cấp tính, viên ngậm kẽm có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn tại chỗ và toàn thân. Các phản ứng phụ thường gặp nhất được ghi nhận bao gồm vị khó chịu trong miệng, kích ứng niêm mạc miệng và cảm giác buồn nôn [3]. Do kẽm ion có tính làm se mạnh, cảm giác khô khốc hoặc đắng miệng có thể kéo dài một thời gian sau khi ngậm [2].

Những người có tiền sử viêm loét dạ dày tá tràng cần cẩn trọng vì lượng kẽm hòa tan trôi xuống dạ dày có thể kích thích niêm mạc, làm tăng cảm giác cồn cào và buồn nôn. Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ không nên tự ý áp dụng phác đồ ngậm kẽm liều cao nếu chưa có chỉ định cụ thể từ bác sĩ chuyên khoa.

Bên cạnh đó, việc ngậm kẽm liều cao chỉ nên giới hạn trong thời gian ngắn của đợt bệnh cảm lạnh tự nhiên [1], [6]. Sử dụng kẽm liều cao kéo dài có thể gây cản trở hấp thu đồng và dẫn đến những rối loạn vi chất khác trong cơ thể. Những người đang dùng các thuốc kháng sinh hoặc thuốc điều trị bệnh mạn tính khác cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ để tránh tương tác thuốc bất lợi.

Cách áp dụng thực tế để đạt hiệu quả tối ưu

Để tận dụng tối đa lợi ích của kẽm khi chớm cảm lạnh, người dùng cần lưu ý những nguyên tắc thực tế sau:

  • Bắt đầu thật sớm: Ngậm viên kẽm ngay trong vòng 24 giờ đầu tiên khi xuất hiện triệu chứng ngứa họng, hắt hơi hoặc nghẹt mũi [3].
  • Chọn đúng dạng bào chế: Ưu tiên viên ngậm chứa kẽm acetate hoặc kẽm gluconate để đảm bảo khả năng giải phóng ion kẽm tự do cao [1], [2]. Kiểm tra kỹ bảng thành phần, tránh các sản phẩm chứa axit citric, axit tartaric hoặc các chất tạo ngọt có tính chelat hóa kẽm làm mất hoạt tính kháng virus [3], [2].
  • Đảm bảo đủ liều lượng: Tổng lượng kẽm nguyên tố cần đạt trên 75 mg mỗi ngày và không vượt quá 100 mg mỗi ngày để đạt hiệu quả tối ưu mà không gây thêm tác dụng phụ [1], [7]. Chia nhỏ thành nhiều lần ngậm trong ngày.
  • Ngậm đúng kỹ thuật: Để viên kẽm tan từ từ hoàn toàn trong miệng, không nhai nát và không nuốt chửng để ion kẽm lưu lại tối đa trên niêm mạc hầu họng [1], [2].

Viên ngậm kẽm là một giải pháp hỗ trợ điều trị cảm lạnh có cơ sở khoa học vững chắc giúp rút ngắn ngày ốm [1], [6]. Tuy nhiên, biện pháp này không thể thay thế cho việc nghỉ ngơi hợp lý, uống đủ nước và duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng. Nếu các triệu chứng không thuyên giảm sau nhiều ngày hoặc xuất hiện dấu hiệu sốt cao, khó thở, người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám và xử trí kịp thời.