Nhiều người có thói quen bắt đầu buổi sáng bằng một tách cà phê thơm để tỉnh táo làm việc. Tuy nhiên, không ít người lo ngại liệu đồ uống đậm vị này có làm xáo trộn đường huyết hay làm tăng nguy cơ mắc bệnh chuyển hóa. Câu hỏi uống cà phê thường xuyên có lợi hay có hại cho bệnh tiểu đường type 2 là băn khoăn rất phổ biến hiện nay.
Các dữ liệu dịch tễ học quy mô lớn cho thấy người có thói quen uống cà phê đều đặn có nguy cơ mắc tiểu đường type 2 thấp hơn đáng kể so với người hiếm khi dùng [1], [2]. Mối liên hệ nghịch này duy trì ổn định qua nhiều quần thể dân cư khác nhau trên thế giới [2].
Bức tranh dịch tễ học về cà phê và tiểu đường
Bệnh tiểu đường type 2 đang là gánh nặng y tế lớn trên toàn cầu, chiếm tới 90% tổng số các ca mắc tiểu đường [3]. Năm 2019, tỷ lệ mắc bệnh chuẩn hóa theo tuổi trên thế giới là 8,3% và ước tính sẽ tăng lên 9,6% vào năm 2045 [3]. Tại Hàn Quốc, tỷ lệ người từ 30 tuổi trở lên mắc bệnh này đã tăng từ 9,7% năm 2008 lên 10,4% vào năm 2018 [3].
Trước xu hướng gia tăng đó, việc tìm kiếm các yếu tố lối sống và dinh dưỡng có thể thay đổi được đóng vai trò sống còn trong công tác phòng bệnh [3], [4]. Người mắc bệnh này đối mặt với nguy cơ mù lòa, suy thận và đoạn chi cao gấp 20 đến 40 lần người bình thường [4]. Hơn nữa, biến chứng nhồi máu cơ tim cao gấp 2 đến 5 lần và nguy cơ đột quỵ tăng từ 2 đến 3 lần [4]. Vì vậy, bất kỳ thói quen ẩm thực nào có khả năng làm giảm tỷ lệ phát bệnh đều thu hút sự quan tâm lớn của giới y khoa.
Nghịch lý caffeine và các thành phần ngoài caffeine
Một nghịch lý tồn tại suốt thời gian dài là các nghiên cứu quy mô nhỏ, ngắn hạn ghi nhận việc đưa caffeine tinh khiết vào cơ thể cấp tính thực chất làm giảm độ nhạy insulin và gây suy giảm dung nạp glucose tức thời [5], [6]. Do đó, ban đầu nhiều người nghĩ rằng loại hạt này không tốt cho chuyển hóa đường.
Tuy nhiên, cà phê không chỉ chứa duy nhất caffeine mà là hỗn hợp phức tạp của hàng trăm hoạt chất tự nhiên khác nhau [7]. Thực tế theo dõi dài hạn cho thấy mối liên quan nghịch đảo giữa cà phê và nguy cơ đái tháo đường [6]. Đáng chú ý, cả loại chứa caffeine lẫn loại đã tách caffeine (decaffeinated) đều ghi nhận khả năng làm giảm nguy cơ phát triển bệnh [4], [7].
Điều này gợi ý rõ ràng rằng các thành phần thực vật khác ngoài caffeine đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát tiến trình bệnh [7]. Cà phê qua màng lọc cũng ghi nhận lợi thế hơn so với phương pháp đun sôi trong nồi [1]. Trong các nghiên cứu cắt ngang tại Bắc Âu, Nam Âu và Nhật Bản, lượng tiêu thụ cao hơn gắn liền với tỷ lệ phát hiện đường huyết cao thấp hơn, đặc biệt là tình trạng tăng đường huyết sau bữa ăn [2].
Nghiên cứu đoàn hệ lớn nói gì?
Để xác định chính xác mối quan hệ giữa thói quen uống cà phê và bệnh tiểu đường, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu đoàn hệ theo dõi hàng chục năm.
Tại Hà Lan, nghiên cứu năm 2002 trên 17.111 nam giới và phụ nữ từ 30 đến 60 tuổi ghi nhận 306 ca mắc mới qua 125.774 người-năm theo dõi [5]. Kết quả cho thấy nhóm uống từ 7 tách mỗi ngày trở lên có nguy cơ mắc bệnh chỉ bằng 0,50 lần (khoảng tin cậy 95% CI: 0,35 - 0,72) so với nhóm uống từ 2 tách trở xuống [5].
Tại Mỹ, công trình năm 2004 theo dõi 41.934 nam giới (1986–1998) và 84.276 nữ giới (1980–1998) không có bệnh nền lúc đầu [6]. Qua 1.333 ca mắc mới ở nam và 4.085 ca ở nữ, nguy cơ tương đối sau hiệu chỉnh đa biến ở nhóm nam uống từ 6 tách trở lên mỗi ngày là 0,46 (95% CI: 0,26 - 0,82) [6]. Ở nhóm nữ uống mức tương tự, nguy cơ tương đối là 0,71 (95% CI: 0,56 - 0,89) [6].
Nghiên cứu trên 88.259 nữ điều dưỡng thuộc nhóm Nurses' Health Study II (26–46 tuổi) từ năm 1991 đến 2001 phát hiện 1.263 ca bệnh [7]. So với người không uống, nguy cơ tương đối là 0,87 cho mức 1 tách/ngày; 0,58 cho mức 2-3 tách/ngày; và 0,53 (95% CI: 0,41 - 0,68) cho mức từ 4 tách/ngày trở lên [7]. Mức giảm nguy cơ tương tự nhau giữa cà phê thường (RR 0,87 cho mỗi tách tăng thêm) và tách caffeine (RR 0,81), cũng như giữa dạng lọc (RR 0,86) và hòa tan (RR 0,83) [7].
Tại châu Á, phân tích gộp năm 2020 trên 4 nghiên cứu đoàn hệ tại Hàn Quốc với 71.527 người tham gia (theo dõi 2-13 năm) cho thấy uống từ 3 tách mỗi ngày trở lên giúp giảm nguy cơ mắc bệnh với tỷ số chênh OR là 0,89 (95% CI: 0,80 - 0,98) so với nhóm dùng dưới 0,5 tách [3]. Đáng chú ý, hiệu ứng bảo vệ này không bị biến đổi bởi 5 biến thể đa hình đơn nucleotide liên quan đến tiểu đường (CDKAL1, CDKN2A/B, KCNJ11, KCNQ1, PEPD) [3].
Tổng hợp bằng chứng: Hiệu quả phụ thuộc liều lượng
Các phân tích tổng quan hệ thống quy mô lớn đã củng cố vững chắc hiện tượng phụ thuộc liều này. Đánh giá năm 2005 tổng hợp 9 nghiên cứu đoàn hệ gồm 193.473 người tham gia và 8.394 ca mắc bệnh cho thấy nguy cơ tương đối gộp là 0,65 (95% CI: 0,54 - 0,78) ở nhóm uống nhiều nhất (từ 6-7 tách/ngày trở lên) và 0,72 (95% CI: 0,62 - 0,83) ở nhóm uống 4-6 tách/ngày so với nhóm dùng từ 0-2 tách/ngày [2]. Mối liên quan này không có sự khác biệt đáng kể theo giới tính, tình trạng béo phì hay khu vực địa lý giữa Mỹ và châu Âu [2].
Đánh giá năm 2012 bao gồm 13 nghiên cứu đoàn hệ với 1.247.387 người và 9.473 ca bệnh khẳng định người uống 4-6 tách và trên 6-7 tách mỗi ngày có nguy cơ mắc bệnh thấp hơn nhóm uống dưới 2 tách [1]. Mối tương quan nghịch đảo này thể hiện mạnh mẽ hơn ở nhóm dưới 60 tuổi [1].
Phân tích gộp liều - đáp ứng năm 2014 quy tụ 28 nghiên cứu tiến cứu trên 1.109.272 người và 45.335 ca bệnh (theo dõi từ 10 tháng đến 20 năm) đã đưa ra các con số cụ thể theo từng mức tiêu thụ [4]. So với nhóm không uống hoặc hiếm khi uống, nguy cơ tương đối cho các mức từ 1 đến 6 tách mỗi ngày lần lượt là 0,92 (1 tách); 0,85 (2 tách); 0,79 (3 tách); 0,75 (4 tách); 0,71 (5 tách); và 0,67 (6 tách) [4]. Cứ mỗi tách tăng thêm mỗi ngày, nguy cơ giảm 9% đối với cà phê thường (RR 0,91; 95% CI: 0,89 - 0,94) và giảm 6% đối với cà phê tách caffeine (RR 0,94; 95% CI: 0,91 - 0,98) [4].
Tuy nhiên, không phải mọi nghiên cứu đều cho kết quả đồng nhất tuyệt đối. Nghiên cứu Whitehall II năm 2008 trên 4.055 nam và 1.768 nữ người Anh theo dõi 11,7 năm (387 ca bệnh) ghi nhận: dù có mối liên hệ nghịch với nồng độ glucose 2 giờ sau nghiệm pháp nạp đường ở thời điểm ban đầu, việc dùng cà phê đơn thuần không cho thấy giảm nguy cơ có ý nghĩa thống kê sau khi hiệu chỉnh đầy đủ các yếu tố gây nhiễu (HR 0,80; 95% CI: 0,54 - 1,18) [8]. Nghiên cứu này chỉ tìm thấy mối liên quan giảm nguy cơ khi kết hợp uống từ 2 tách trở lên của cả trà lẫn cà phê (HR 0,68; 95% CI: 0,46 - 0,99) [8]. Giới hạn về phạm vi tiêu thụ hẹp và khác biệt giai tầng xã hội có thể là nguyên nhân tạo ra sự sai khác này [8].
Hiểu lầm thường gặp và giới hạn bằng chứng
Nhiều người lầm tưởng rằng cứ uống nhiều cà phê là có thể ăn uống tùy tiện mà không lo tiểu đường. Đây là quan niệm sai lầm vì cà phê chỉ là một yếu tố dinh dưỡng nhỏ hỗ trợ, không thể triệt tiêu nguy cơ phát sinh từ thừa cân, lười vận động hoặc chế độ ăn giàu calo.
Một hiểu lầm khác là chỉ cà phê đậm đặc chứa nhiều caffeine mới mang lại lợi ích. Thực tế, cà phê tách caffeine vẫn giữ được phần lớn khả năng hỗ trợ giảm nguy cơ mắc bệnh nhờ các hợp chất hoạt tính sinh học tự nhiên khác [1], [4], [7].
Về mặt y tế công cộng, các chuyên gia nhấn mạnh rằng không thể khuyến nghị việc tăng tiêu thụ cà phê như một chiến lược sức khỏe cộng đồng đại trà [1]. Hầu hết dữ liệu hiện nay đến từ các nghiên cứu quan sát dịch tễ học, cần thêm các nghiên cứu can thiệp chi tiết hơn đo lường chính xác tình trạng tăng đường huyết sau ăn và độ nhạy insulin [1], [2].
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Dù các số liệu thống kê cho thấy uống từ 3 đến 6 tách mỗi ngày có lợi ích giảm nguy cơ [4], việc nạp lượng lớn caffeine không phù hợp với tất cả mọi người. Caffeine cấp tính có thể gây tăng huyết áp tạm thời, làm tim đập nhanh hoặc bồn chồn ở những người nhạy cảm.
Người có tiền sử mất ngủ kéo dài, hội chứng trào ngược dạ dày thực quản, rối loạn nhịp tim hoặc phụ nữ mang thai cần cân nhắc kỹ ngưỡng dung nạp caffeine hàng ngày. Đối với nhóm người này, việc lựa chọn cà phê tách caffeine là giải pháp hợp lý để nhận các hợp chất thực vật có ích mà không phải chịu tác động kích thích của caffeine [4], [7]. Bất kỳ ai đang điều trị bệnh lý nền hoặc dùng thuốc kiểm soát đường huyết cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị trước khi thay đổi mạnh lượng đồ uống hàng ngày.
Hướng dẫn áp dụng trong sinh hoạt hàng ngày
Để tận dụng tối đa lợi ích mà không gây hại cho sức khỏe, người dùng nên ưu tiên cà phê pha phin hoặc lọc qua giấy, vốn được chứng minh có lợi thế hơn so với phương pháp đun sôi trong nồi [1]. Dạng cà phê hòa tan nguyên chất cũng ghi nhận mối liên hệ tương tự [7].
Nguyên tắc quan trọng nhất là không thêm đường, sữa đặc nhiều đường hoặc các loại siro béo ngậy. Những chất tạo ngọt bổ sung này sẽ làm tăng vọt lượng calo rỗng và đường hấp thu nhanh, trực tiếp làm hỏng giá trị phòng ngừa bệnh của thức uống.
Thời điểm sử dụng tốt nhất là vào buổi sáng hoặc đầu giờ chiều, tránh uống sát giờ ngủ buổi tối để không làm gián đoạn chu kỳ nghỉ ngơi tự nhiên. Có thể duy trì đều đặn từ 1 đến 3 tách mỗi ngày tùy theo thể trạng cá nhân [4], [7].
Tóm lại, các dữ liệu dịch tễ học đã xác lập bằng chứng vững chắc về mối liên hệ giữa thói quen uống cà phê lâu dài và việc giảm nguy cơ tiểu đường type 2 [1], [2], [4]. Tuy vậy, cà phê chỉ phát huy tác dụng tích cực khi được đặt trong một lối sống lành mạnh tổng thể, kết hợp vận động thường xuyên và chế độ dinh dưỡng cân bằng.








