Nhiều người thường biết đến cây gỗ mun (thuộc chi Diospyros) như một loại gỗ quý dùng làm đồ mỹ nghệ cao cấp, nhưng trong dân gian, vỏ và rễ của các loài thuộc chi này đôi khi được truyền tai nhau dùng để trị bệnh. Lời đồn đại về việc sắc nước vỏ cây mun hay ngâm rượu rễ cây để "ngừa ung thư" đang khiến không ít người tìm mua mà không hề biết về những độc chất tiềm ẩn. Nhóm hoạt chất tạo nên tính chất sinh học mạnh mẽ nhất của các loài cây mun chính là naphthoquinone. Vậy hoạt chất này thực sự đem lại lợi ích hỗ trợ sức khỏe hay là một chất kịch độc cho cơ thể con người?

Câu trả lời ngắn gọn là: naphthoquinone là con dao hai lưỡi mang độc tính tế bào rất cao. Dù các hợp chất này đang được giới khoa học nghiên cứu vì khả năng tiêu diệt tế bào ung thư hoặc vi khuẩn trong phòng thí nghiệm, nhưng ranh giới giữa tác dụng sinh học và độc tính gây hại tế bào lành là vô cùng mỏng manh. Sử dụng bừa bãi các bộ phận của cây mun theo kinh nghiệm truyền miệng tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cấp và hủy hoại tế bào nghiêm trọng.

Naphthoquinone: Hoạt chất đặc trưng của chi Diospyros

Chi Diospyros (họ Thị/Ebenaceae), bao gồm cây gỗ mun và nhiều loài thực vật thân gỗ khác, là một trong những nguồn phong phú nhất của các hợp chất có hoạt tính sinh học, đặc biệt là nhóm 1,4-naphthoquinone [1]. Trong suốt 60 năm qua, rất nhiều dẫn xuất tự nhiên đã được phân lập từ các loài mun trong chi này, với hai cấu trúc khung cơ bản được nghiên cứu nhiều nhất là plumbagin và diospyrin [1]. Đây là nhóm sắc tố và chất bảo vệ tự nhiên giúp cây kháng lại sâu bệnh, nấm và vi sinh vật gây hại ngoài môi trường tự nhiên.

Về mặt hóa học và cơ chế tác động, các phân tử naphthoquinone có cấu trúc quinone hoạt động, có khả năng can thiệp vào chuỗi hô hấp tế bào, gây mất cân bằng oxy hóa và làm biến tính các protein quan trọng. Nhờ đặc tính này, chúng thể hiện độc tính tế bào rất mạnh, tiêu diệt cả tế bào ung thư lẫn các loại vi sinh vật ký sinh. Tuy nhiên, khả năng "tấn công không chọn lọc" này cũng chính là nguyên nhân biến naphthoquinone thành chất độc hại nếu đưa vào cơ thể sinh vật bậc cao mà không qua kiểm soát liều lượng hay tinh chế.

Nghiên cứu chỉ ra khả năng tiêu diệt tế bào trong ống nghiệm

Các thử nghiệm độc tính tế bào (in vitro) đã ghi nhận tiềm năng ức chế tế bào ác tính từ các bộ phận của nhiều loài mun khác nhau trên thế giới. Điển hình, nghiên cứu năm 2003 đã khảo sát diosquinone – một dẫn xuất naphthoquinone epoxide phân lập từ vỏ rễ loài Diospyros mespiliformis và Diospyros tricolor [2]. Khi thử nghiệm trên 10 dòng tế bào ung thư theo quy trình chuẩn của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (NIH), diosquinone cho thấy hoạt tính rất mạnh với chỉ số ED50 dao động từ 0,18 microg/ml đối với tế bào u nguyên bào đệm người (U373) đến 4,5 microg/ml đối với tế bào ung thư tuyến tiền liệt phụ thuộc nội tiết (LNCaP) [2].

Năm 2014, một nghiên cứu tại Madagascar đã tiến hành khảo sát vỏ rễ của loài cây bản địa Diospyros quercina dựa trên kinh nghiệm dân gian [3]. Kết quả phân lập được ba hợp chất tinh khiết gồm TR-21, TR-22 và TR-23, cho thấy khả năng ức chế tế bào bạch cầu lympho chuột P388 cực mạnh trong ống nghiệm, với chỉ số IC50 lần lượt là (0,0175 ± 0,0060) microg/ml, (0,089 ± 0,005) microg/ml và (1,027 ± 0,070) microg/ml [3]. Hoạt tính ngăn chặn sự phát triển của tế bào này giải thích lý do thầy thuốc bản địa dùng vỏ rễ cây để chữa khối u, nhưng đây chỉ là dữ liệu trong ống nghiệm đối với tế bào chuột và cần được kiểm chứng thêm [3].

Bên cạnh đó, các nghiên cứu từ năm 1997 cũng kiểm tra các dẫn xuất naphthoquinone (gồm dạng monomer, dimer và tetramer) có trong chi Diospyros trên mô hình kích hoạt kháng nguyên sớm virus Epstein-Barr (gây ra bởi chất kích thích khối u TPA) và mô hình ung thư da hai giai đoạn ở chuột, qua đó nhận thấy một số hợp chất có hoạt tính kháng sinh khối u mạnh [4].

Độc tính tế bào và nguy cơ hủy hoại tế bào lành

Mặc dù có hoạt tính chống khối u trên đĩa nghiệm, naphthoquinone từ chi Diospyros lại bộc lộ độc tính đáng sợ đối với các sinh vật sống và tế bào động vật có vú bình thường. Một nghiên cứu năm 2006 phân lập các dẫn xuất naphthalene và naphthoquinone từ rễ loài Diospyros assimilis đã đánh giá hoạt tính kháng ký sinh trùng và tính độc [5]. Các quinone dạng dimer gồm diospyrin và 8'-hydroxyisodiospyrin ức chế tốt ký sinh trùng Trypanosoma brucei (IC50 lần lượt 1,12 và 8,82 microM) và Leishmania donovani (IC50 lần lượt 12,94 và 16,66 microM) [5]. Tuy nhiên, hợp chất naphthaldehyde 1 cũng thể hiện độc tính trực tiếp lên tế bào nguyên bào cơ vân xương của chuột (dòng tế bào L-6) với giá trị IC50 là 174,94 microM [5].

Sự độc hại của naphthoquinone còn thể hiện rõ qua độc tính sinh thái học. Nghiên cứu năm 2002 trên quả loài Diospyros maritima đã tìm thấy 3 dẫn xuất mới cùng 6 hợp chất đã biết như 3,3'-biplumbagin, chitranone, 2,3-epoxyplumbagin [6]. Đáng chú ý, phần lớn các quinone này (gồm các chất được đánh số 11, 12, 14, 15, 16) đều thể hiện độc tính mạnh đối với cá (ichthyotoxic activity) và chất số 14 gây ức chế hạt nảy mầm [6].

Không chỉ vậy, nghiên cứu năm 2024 về thành phần loài Diospyros xolocotzii và Diospyros digyna đã chỉ ra các chất chiết xuất có đặc tính ức chế enzyme acetylcholinesterase (AChE) và độc tính diệt ấu trùng sâu hại sâu mùa thu (Spodoptera frugiperda), cho thấy tiềm năng làm thuốc trừ sâu tự nhiên [7]. Một chất có thể tiêu diệt sâu bọ và làm chết cá rõ ràng không thể tùy tiện đưa vào đường tiêu hóa của con người.

Giới hạn nghiên cứu: Ống nghiệm không đồng nghĩa với thuốc trị bệnh

Một phát hiện quan trọng mà người dân cần biết là hoạt tính mạnh trong ống nghiệm rất hiếm khi chuyển hóa thành công ở cơ thể sống mà không gây hại. Nghiên cứu năm 2004 trên vỏ cây Diospyros maritima thu thập ở hai vùng của Indonesia đã phân lập được plumbagin, maritinone, chitranone, zeylanone, (4S)-shinanolone cùng nhiều hợp chất khác [8]. Dù plumbagin và maritinone thể hiện độc tính tế bào trong phòng thí nghiệm, nhưng khi đưa vào đánh giá hoạt tính chống khối u sống (in vivo) bằng phương pháp cấy sợi rỗng (hollow fiber assay), cả hai chất này đều hoàn toàn không có hoạt tính chống khối u [8].

Thực tế này cho thấy, khi đi vào cơ thể động vật sống, các hợp chất naphthoquinone có thể bị bất hoạt nhanh chóng, không tiếp cận được đích, hoặc liều cần thiết để ức chế bệnh lại vượt quá ngưỡng gây ngộ độc toàn thân. Toàn bộ các dữ liệu khoa học về naphthoquinone trong chi cây mun hiện nay chỉ dừng lại ở mục đích định hướng thiết kế cấu trúc thuốc cho tương lai [1], tuyệt đối chưa có bất kỳ chế phẩm dược liệu nào từ vỏ hoặc rễ cây mun được chuẩn hóa và cấp phép làm thuốc uống đại trà cho người.

Những hiểu lầm nguy hại khi dùng gỗ mun chữa bệnh

Hiểu lầm tai hại nhất là việc đánh đồng "tiêu diệt tế bào ung thư trong ống nghiệm" với việc "uống vào chữa khỏi bệnh ung thư". Người bệnh khi nghe tin rễ mun hay vỏ mun có chất ức chế u bướu thường tự ý tìm mua rác cây, vỏ gỗ mun khô để sắc nước uống đặc. Việc nung nấu vỏ cây mun không kiểm soát liều có thể giải phóng lượng lớn plumbagin, diosquinone hay các dẫn xuất độc hại khác, gây bỏng rát đường tiêu hóa, nôn mửa, suy giảm chức năng gan, thận hoặc gây tổn thương tế bào cơ vân [5].

Một sai lầm khác là cho rằng các bài thuốc từ rễ thảo dược bản địa châu Phi hay Madagascar dùng cây thuộc chi Diospyros trị ung thư [3] nghĩa là an toàn tuyệt đối. Các nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng đó chỉ là bằng chứng giải thích cho kinh nghiệm dân gian và cần phải tiếp tục thử nghiệm động vật để đánh giá an toàn [3]. Naphthoquinone tự nhiên trong gỗ mun vốn đóng vai trò là vũ khí hóa học bảo vệ cây trước sự tấn công của côn trùng và vi nấm bên ngoài, không phải là thứ sinh ra để làm thực phẩm hay thuốc uống thông thường.

Ai nên thận trọng?

Tất cả mọi người đều không nên tự ý dùng rễ, vỏ, cành cây gỗ mun để đun nấu uống hay ngâm rượu uống. Đặc biệt, các nhóm đối tượng sau phải tuyệt đối tránh xa:

  • Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú: Độc tính tế bào của naphthoquinone có thể gây ngộ độc phôi thai hoặc qua sữa mẹ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phân chia tế bào non nớt của trẻ.
  • Bệnh nhân đang điều trị ung thư: Không được bỏ phác đồ y khoa hiện đại để uống nước sắc cây mun. Việc này vừa làm mất cơ hội sống sót, vừa đối mặt với nguy cơ độc tính tế bào chồng chéo làm suy kiệt cơ thể.
  • Người có bệnh lý về gan, thận: Hoạt chất naphthoquinone cần được chuyển hóa và đào thải qua gan, thận; nồng độ độc chất cao sẽ làm trầm trọng thêm tổn thương tạng.
  • Trẻ nhỏ và người cao tuổi: Đây là nhóm có hàng rào sinh học yếu, rất dễ rơi vào tình trạng ngộ độc cấp tính khi tiếp xúc với các hóa chất diệt khuẩn, diệt ký sinh trùng tự nhiên có trong rễ mun [5, 6].

Khuyến nghị áp dụng thực tế an toàn

Gỗ mun (Diospyros) nên được giữ đúng vai trò và giá trị cao nhất của nó trong đời sống: làm đồ thủ công mỹ nghệ, đồ dùng nội thất, dụng cụ trang trí hoặc nhạc cụ. Trong y học, các nhà khoa học đang dùng các hợp chất 1,4-naphthoquinone từ loài này làm khuôn mẫu cấu trúc để nghiên cứu thiết kế các dẫn xuất thuốc kháng khuẩn và ung thư mới có chọn lọc hơn, loại bỏ độc tính tế bào lành [1].

Người dân khi sở hữu hoặc làm việc chế tác gỗ mun cần đeo khẩu trang bảo hộ để tránh hít phải bụi gỗ mịn chứa quinone có thể gây kích ứng niêm mạc đường hô hấp. Nếu nghe bất kỳ lời đồn thổi nào về việc ngâm rễ hay vỏ cây mun để uống bồi bổ, trị bệnh ung thư hay trừ ký sinh trùng đường ruột, hãy kiên quyết từ chối. Mọi vấn đề về điều trị bệnh mạn tính hay u bướu đều cần tuân thủ hướng dẫn từ bác sĩ chuyên khoa và sử dụng các loại thuốc đã qua thử nghiệm lâm sàng nghiêm ngặt.

Nhóm chất naphthoquinone phân lập từ các loài cây gỗ mun chi Diospyros là minh chứng điển hình cho việc hợp chất thiên nhiên mang hoạt tính sinh học rất cao nhưng cũng song hành cùng độc tính tế bào đáng sợ. Việc nhầm lẫn giữa tác dụng ức chế tế bào trong đĩa nghiệm với công năng chữa bệnh trên cơ thể người là sai lầm nguy hiểm có thể trả giá bằng tính mạng. Hãy tiếp cận các thông tin về thảo dược dân gian dưới góc nhìn khoa học tỉnh táo và luôn tham vấn ý kiến chuyên gia y tế trước khi đưa bất kỳ chất lạ nào vào cơ thể.