Nhiều người bắt đầu bữa ăn bằng việc đếm từng lần nhai nhằm hỗ trợ tiêu hóa hoặc giảm cân. Thói quen ban đầu tưởng chừng vô hại này lại dần biến thành thước đo bắt buộc cho từng miếng thức ăn. Thay vì tận hưởng hương vị, tâm trí người ăn bị bủa vây bởi các con số cùng nỗi sợ đau đáu về sức khỏe.
Kỹ thuật đếm số lần nhai thực chất có thể trở thành bẫy tâm lý nguy hiểm. Đối với những người có cơ địa nhạy cảm, việc kiểm soát quá đà hành vi nhai dễ biến tướng thành một dạng ám ảnh cưỡng chế bữa ăn, kích hoạt hội chứng ám ảnh ăn sạch mang tên Orthorexia Nervosa [1, 5].
Khi kiểm soát bữa ăn biến thành nỗi ám ảnh
Orthorexia Nervosa là thuật ngữ chỉ trạng thái ám ảnh bệnh lý đối với việc ăn uống lành mạnh và tinh khiết [3, 8]. Khác với biếng ăn tâm thần hay cuồng ăn vốn tập trung vào cân nặng hay vóc dáng, người mắc hội chứng này chỉ tập trung vào độ sạch, mức độ nguyên chất của thực phẩm và các quy tắc dinh dưỡng khắt khe [5, 7]. Hành vi đếm nhai nếu bị đẩy lên mức cực đoan sẽ chuyển hóa từ một kỹ thuật chăm sóc sức khỏe thành một dạng nghi thức ép buộc [1].
Nhiều trường hợp ghi nhận sự biến dạng hành vi từ việc tuân thủ các quy tắc cứng nhắc nhằm đối phó với nỗi bất an [1]. Ban đầu, người thực hiện tin rằng nhai đủ 30 hay 50 lần mỗi miếng giúp cơ thể hấp thu tối đa dinh dưỡng và tránh độc chất [1]. Thế nhưng, khi một bữa ăn bị bó buộc bởi các quy định tự đặt ra, người ăn dần hình thành tâm lý né tránh, lo âu tột độ nếu chẳng may lỡ nuốt sớm hơn một nhịp [5, 8].
Cơ chế biến kỹ thuật nhai thành hành vi tiêu cực
Tâm lý đằng sau sự ám ảnh này liên quan chặt chẽ đến sự suy giảm tính linh hoạt trong nhận thức [2]. Khi một người rơi vào căng thẳng hoặc khủng hoảng, nhận thức linh hoạt giảm sút khiến họ khó thích ứng với các tình huống đời thường [2]. Việc bám víu vào một quy tắc cụ thể như đếm số lần nhai hoặc chọn lọc tuyệt đối thức ăn lành mạnh trở thành một cơ chế bù trừ nhằm tìm kiếm cảm giác kiểm soát [1, 3].
Khó khăn trong việc điều hòa cảm xúc và kiểm soát xung động đóng vai trò nền tảng dẫn dắt xu hướng ám ảnh ăn uống lành mạnh quá mức [3]. Khi không thể chấp nhận các cảm xúc tiêu cực nội tâm, người bệnh có xu hướng chuyển hướng sự chú ý sang các hành vi cụ thể bên ngoài [3]. Việc tập trung tuyệt đối vào việc nhai bao nhiêu lần, thực phẩm sạch tới mức nào giúp họ tạm thời kìm nén nỗi lo nhưng lại củng cố thêm tính cưỡng chế của hành vi [3, 4].
Các nghiên cứu khoa học phản ánh điều gì?
Nghiên cứu công bố năm 2025 tiến hành trên 324 người trưởng thành trong cộng đồng đã phân tích mối quan hệ giữa mức độ lo âu, tính linh hoạt nhận thức và triệu chứng ám ảnh ăn sạch Orthorexia Nervosa [2]. Các nhà khoa học sử dụng Thang đo lo âu về virus Corona, Bảng câu hỏi về thói quen ăn uống và Bảng kiểm kê độ linh hoạt nhận thức [2]. Kết quả chỉ ra rằng mức độ lo âu cao liên quan chặt chẽ đến sự gia tăng các triệu chứng ám ảnh ăn sạch [2]. Đồng thời, độ linh hoạt nhận thức đóng vai trò trung gian: người có nhận thức linh hoạt tốt hơn ít gặp vấn đề rắc rối với việc ăn uống lành mạnh hơn dù có mức lo âu cao [2].
Một khảo sát cắt ngang năm 2019 thực hiện trên 627 sinh viên y khoa tại toàn bộ 7 khoa y ở Li-băng đã xem xét mối liên hệ giữa xu hướng Orthorexia Nervosa, thái độ ăn uống và các biểu hiện lo âu [4]. Nghiên cứu sử dụng thang đo ORTO-15 (điểm dưới 40 cho thấy có xu hướng bệnh), Thang đo thái độ ăn uống EAT-26 và Thang đánh giá lo âu Hamilton HAM-A [4]. Mô hình hồi quy tuyến tính cho thấy điểm thái độ ăn uống bất thường EAT cao hơn có mối liên hệ đáng kể với điểm ORTO-15 thấp hơn (tức biểu hiện xu hướng ám ảnh ăn sạch nhiều hơn, beta = -0,094) [4]. Ngược lại, điểm số lo âu tâm thần lại liên quan tới điểm ORTO-15 cao hơn (beta = 0,117) [4]. Giới hạn của nghiên cứu là thiết kế mô tả cắt ngang nên chưa khẳng định được quan hệ nhân quả tuyệt đối [4].
Nghiên cứu năm 2022 trên 399 người trưởng thành (gồm 266 phụ nữ) đã làm rõ mối liên hệ giữa điều hòa cảm xúc, phong cách gắn bó và các triệu chứng ám ảnh ăn uống lành mạnh quá mức [3]. Phân tích hồi quy bội chứng minh rằng việc không chấp nhận phản ứng cảm xúc và khó khăn trong kiểm soát xung động là hai yếu tố dự báo mạnh nhất cho chứng Orthorexia Nervosa [3]. Người có điểm số ám ảnh ăn sạch cao luôn biểu lộ rõ sự khó khăn trong quản lý cảm xúc bản thân [3].
Khảo sát năm 2021 tuyển chọn 519 người trưởng thành tại Li-băng từ 7 nhà thuốc cộng đồng đã xác định tác động trung gian của trầm cảm, lo âu và căng thẳng đối với hành vi ăn uống [5]. Dữ liệu chỉ ra trầm cảm và lo âu có mối tương quan thuận với chứng ám ảnh ăn sạch [5]. Trầm cảm và lo âu đóng vai trò trung gian một phần giữa tính kiên trì quá mức và ám ảnh ăn sạch, trong khi lo âu và căng thẳng làm trung gian giữa tính cấp bách và xu hướng ăn sạch lành mạnh [5].
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, một nghiên cứu năm 2023 trên sinh viên trường y qua các thang đo MOCI, EAT SF-26, ORTO-11 và Thang đo nhận thức có ý thức ghi nhận rằng mỗi điểm gia tăng trên thang đo rối loạn ăn uống làm tăng nguy cơ chẩn đoán ám ảnh ăn sạch lên 1,07 lần [6]. Ngược lại, mỗi điểm tăng trên thang đo nhận thức có ý thức giúp giảm nguy cơ chẩn đoán tới 0,92 lần [6]. Nhận thức tỉnh thức và khả năng tự nhận thức cơ thể được xác định là các yếu tố bảo vệ vững chắc [6].
Nghiên cứu định tính năm 2024 tiến hành phỏng vấn sâu 13 cá nhân tự nhận thấy bản thân bận tâm quá mức với việc ăn sạch [7]. Kết quả chỉ ra việc tuân thủ các quy tắc ăn uống quá khắt khe khiến họ hình thành nỗi sợ bị nhiễm bẩn thực phẩm tại nhà hàng, dẫn đến xu hướng cô lập xã hội và chỉ ăn thực đơn đơn điệu lặp đi lặp lại [7].
Lợi ích thực tế và giới hạn của bằng chứng
Nhai kỹ là một phản xạ sinh lý tự nhiên giúp phân cắt thức ăn, hỗ trợ enzyme tiêu hóa hoạt động tốt hơn và giúp não bộ kịp nhận tín hiệu no. Tuy nhiên, ranh giới giữa việc nhai kỹ tự nhiên và hành vi đếm nhai cưỡng chế nằm ở trạng thái tâm lý đi kèm. Bằng chứng hiện nay chỉ ra rằng việc cứng nhắc hóa các nguyên tắc dinh dưỡng không đem lại thêm lợi ích thể chất mà lại gây hại lớn cho sức khỏe tâm thần [3, 8].
Dù vậy, các bằng chứng khoa học hiện tại phần lớn dựa trên các nghiên cứu cắt ngang và khảo sát qua bảng hỏi [1, 2, 4, 6]. Thiết kế này chứng minh mối liên hệ tương quan giữa lo âu, xung động và ám ảnh ăn uống nhưng chưa thể theo dõi tiến trình kéo dài hàng năm để khẳng định đếm nhai đơn lẻ sẽ gây ra rối loạn tâm thần toàn phát. Hơn nữa, các tiêu chí chẩn đoán chuẩn cho chứng ám ảnh ăn sạch vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện [5, 7].
Hiểu lầm thường gặp về việc đếm nhai
Nhiều người lầm tưởng rằng đếm nhai càng chuẩn xác thì khả năng kiểm soát sức khỏe càng tuyệt đối. Trên thực tế, hành vi cố chấp duy trì một con số nhai cố định cho mọi loại thức ăn là dấu hiệu của sự kém linh hoạt nhận thức chứ không phản ánh chế độ dinh dưỡng tối ưu [2].
Một hiểu lầm phổ biến khác là việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc ăn uống phản ánh một lối sống kỷ luật và nâng cao lòng tự trọng. Nghiên cứu trên các giảng viên tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2022 cho thấy cảm giác thỏa mãn nhờ chế độ ăn khắt khe chỉ là tạm thời, và lòng tự trọng thấp có thể chính là yếu tố tiềm ẩn thúc đẩy sự bám víu vào các chế độ ăn ám ảnh [8]. Khi không đạt được số lần nhai hay quy chuẩn tự đặt ra, người thực hiện thường bị bao vây bởi cảm giác tội lỗi nặng nề [8].
Những ai nên thận trọng?
Những người có tiền sử lo âu, trầm cảm hoặc khó khăn trong việc điều hòa cảm xúc cần đặc biệt cẩn trọng với các kỹ thuật ăn uống mang tính định lượng quá mức [3, 4]. Việc áp dụng đếm nhai dễ biến thành một hình thức cưỡng chế tinh thần đối với nhóm đối tượng này.
Những người có lòng tự trọng thấp hoặc từng trải qua các rối loạn ăn uống khác cũng nằm trong nhóm nguy cơ cao [2, 7]. Ám ảnh ăn sạch đôi khi được sử dụng vô thức như một chiến lược đối phó thay thế cho chứng chán ăn tâm thần trước đó [1]. Nếu nhận thấy bữa ăn làm nảy sinh căng thẳng, lo sợ hoặc khiến bản thân dần né tránh các buổi tụ họp bạn bè, người thực hiện nên dừng việc đếm nhai và tìm kiếm sự tham vấn từ các chuyên gia y tế [7].
Cách áp dụng thói quen ăn uống đúng đắn
Thay vì tập trung vào các con số cứng nhắc, việc ăn uống nên quay trở về với nhận thức tỉnh thức tự nhiên [6]. Người ăn có thể chú ý vào cảm nhận kết cấu và hương vị thực phẩm thay vì nhẩm tính trong đầu từng lần răng chuyển động [6].
Bữa ăn nên diễn ra trong không gian thư giãn, ngồi ngay ngắn, cắn miếng vừa phải và nuốt khi thức ăn đã được nghiền mịn tự nhiên. Sự linh hoạt trong lựa chọn thực phẩm và phong thái ăn uống là chìa khóa duy trì sức khỏe bền vững, tránh để các quy chuẩn sạch sẽ cực đoan biến thành sự cô lập và gánh nặng tinh thần [1, 8].
Ăn uống vốn là nguồn cung cấp năng lượng và niềm vui sống cho cơ thể mỗi ngày. Kỹ thuật ăn chậm nhai kỹ chỉ thực sự hữu ích khi mang lại cảm giác thoải mái và an tâm tự nhiên. Đừng để những con số vô hồn biến chiếc bàn ăn thành nơi thực hiện những nghi thức cưỡng chế đầy áp lực.





