Lời đồn về cây nhọc và căn bệnh ung thư

Nhiều người truyền tai nhau rằng cây nhọc (thuộc chi Polyalthia) là vị thuốc nam thần kỳ có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư. Khi đối mặt với căn bệnh hiểm nghèo, không ít gia đình đã tìm kiếm các bài thuốc dân gian với hy vọng tìm thấy cơ hội chữa lành tự nhiên.

Tuy nhiên, lời đồn thổi này bắt nguồn từ sự hiểu lầm lớn giữa nghiên cứu tế bào trong phòng thí nghiệm và việc chữa bệnh trên cơ thể người. Câu trả lời chính xác dựa trên khoa học hiện tại là: Cây nhọc hoàn toàn chưa được chứng minh có khả năng điều trị khỏi bệnh ung thư ở người.

Bản chất nghiên cứu độc tính tế bào in vitro

Cây nhọc thuộc chi Polyalthia, một chi thực vật thuộc họ Na (Annonaceae). Tại Nam Á và châu Phi, loài Polyalthia cerasoides thường được người dân sử dụng theo kinh nghiệm dân gian để hỗ trợ giảm đau răng, viêm nhiễm, sốt, thấp khớp hoặc căng thẳng [1].

Chính từ kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã tiến hành chiết tách các hoạt chất từ vỏ thân, rễ hoặc lá cây để kiểm tra hoạt tính sinh học [1, 2, 8]. Độc tính tế bào (cytotoxicity) là thuật ngữ mô tả khả năng làm tổn thương hoặc giết chết tế bào khi chất chiết xuất được tiếp xúc trực tiếp trong đĩa nuôi cấy (in vitro) [1, 2].

Rất nhiều hợp chất hóa học hoặc tự nhiên có thể gây độc cho tế bào khi nhỏ trực tiếp vào đĩa petri. Tuy nhiên, việc một chất giết chết tế bào trong đĩa thí nghiệm hoàn toàn không đồng nghĩa với việc chất đó có thể trở thành thuốc điều trị an toàn cho con người.

Cơ chế tác động ghi nhận trong phòng thí nghiệm

Các nghiên cứu sinh học tế bào cho thấy một số hợp chất phân lập từ chi nhọc kích hoạt quá trình tự hủy (apoptosis) của tế bào ung thư. Nghiên cứu năm 2013 chỉ ra hợp chất DMMA (6,8-dihydroxy-7-methoxy-1-methyl-azafluorenone) từ rễ cây Polyalthia cerasoides làm giảm điện thế màng ty thể (MTP) sau 24 giờ tiếp xúc ở 5 dòng tế bào ung thư người [2].

Dưới kính hiển vi huỳnh quang, các tế bào ung thư tiếp xúc với hoạt chất này xuất hiện hiện tượng nhân tế bào bị cô đặc và hình thành các thể tự hủy [2]. Cơ chế này diễn ra thông qua việc kích hoạt các enzym caspase-8 và caspase-9, dẫn dắt tế bào tự chết theo cả con đường nội sinh lẫn ngoại sinh [1, 6].

Bên cạnh đó, nghiên cứu mô phỏng máy tính (in-silico) năm 2022 cho thấy hai hợp chất nhóm diterpene labdane từ vỏ thân cây Polyalthia cerasoides có khả năng liên kết mạnh với protein alpha và beta-tubulin, một cấu trúc quan trọng trong quá trình phân chia của tế bào [1].

Các nghiên cứu khoa học cụ thể nói gì?

Một tổng quan khoa học năm 2021 tổng hợp có khoảng 54 hợp chất từ các loài Polyalthia thể hiện độc tính chống lại các dòng tế bào ung thư qua thử nghiệm sống còn MTT hoặc CCK-8, với giá trị IC50 dao động từ nano-mol đến micro-mol [3]. Nhóm này gồm 18 hợp chất alkaloid và 27 hợp chất nhóm terpene có khả năng gây chết tế bào ở nồng độ microgam/ml hoặc micromol [3].

Nghiên cứu công bố năm 2013 phân lập hợp chất DMMA từ rễ Polyalthia cerasoides và thử nghiệm trên các dòng tế bào ung thư bạch cầu người (HL-60, U937, MOLT-4), tế bào ung thư vú người MDA-MB231 và tế bào ung thư biểu mô tế bào gan người HepG2 [2]. Kết quả cho thấy DMMA ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư này phụ thuộc vào liều lượng, với giá trị IC50 từ 20 đến 55 microM [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng ghi nhận DMMA làm giảm khả năng sống của các tế bào đơn nhân máu ngoại vi bình thường ở người [2]. Hợp chất này cũng được ghi nhận có giá trị IC50 là 3,6 microgam/ml khi thử trên dòng tế bào ung thư phổi kháng adriamycin [3].

Trước đó, năm 1994, ba hợp chất clerodane diterpene chiết từ vỏ thân cây Polyalthia barnesii bằng dung môi ethyl acetate được xác định có độc tính rộng trên một bảng dòng tế bào ung thư người [4]. Đến năm 2010, các hợp chất nhóm cycloartane triterpene và bisclerodane diterpene (gồm Longitriol và Longimide A) chiết xuất từ lá cây Polyalthia longifolia var. pendula cũng được thử nghiệm [5]. Hai hợp chất này có hoạt tính mạnh nhất trên dòng tế bào ung thư cổ tử cung với IC50 lần lượt là 10,03 và 4,12 microgam/ml [5].

Năm 2013, nghiên cứu trên thân cây Polyalthia rumphii phát hiện hợp chất oxostephanine thể hiện hoạt tính kháng tế bào ung thư trên hai dòng tế bào SPC-A-1 và BEL-7402 với giá trị IC50 lần lượt là 1,47 và 1,73 microgam/ml [6].

Năm 2021, thử nghiệm trên phân đoạn cồn và ete dầu mỏ từ vỏ thân và hạt cây Polyalthia cerasoides cho thấy phân đoạn cồn PS-1 và PS-3 ức chế tế bào ung thư gan HepG2 với IC50 lần lượt là 10 microgam/ml và 11 microgam/ml [7]. Đối với tế bào ung thư cổ tử cung HeLa, phân đoạn PS-1 đạt IC50 10 microgam/ml, PS-2 đạt 24 microgam/ml và PS-3 đạt 11 microgam/ml [7]. Hai phân đoạn PS-3 và PS-4 cũng cho thấy tác dụng bảo vệ phân tử DNA siêu xoắn chống lại quá trình oxy hóa [7].

Năm 2022, nghiên cứu tách chiết hai hợp chất nhóm diterpene từ vỏ thân Polyalthia cerasoides ghi nhận tác dụng độc tế bào phụ thuộc liều lượng trên dòng tế bào gan HepG2 qua thử nghiệm MTT [1].

Độc tính trên động vật và khoảng cách đến người bệnh

Bên cạnh thử nghiệm trên tế bào, một số nghiên cứu đã khảo sát độc tính di truyền trên động vật. Năm 2008, một nghiên cứu đánh giá chiết xuất cồn của cây Polyalthia cerasoides trên chuột nhắt trắng Swiss albino với liều 40 mg/kg thể trọng [8]. Kết quả so sánh tần suất sai lệch nhiễm sắc thể với nhóm đối chứng cho thấy chiết xuất không gây độc tính di truyền ở liều dùng này [8]. Thử nghiệm MTT cùng nghiên cứu cho thấy chiết xuất cồn có độc tính tế bào mức độ vừa phải trên dòng tế bào L929 [8].

Năm 2021, nghiên cứu trên chuột nhắt trắng cũng ghi nhận ete dầu mỏ của hạt (PS-2) và vỏ thân (PS-4) cây Polyalthia cerasoides có tính chống đột biến tốt khi làm giảm sai lệch nhiễm sắc thể so với các phân đoạn cồn [7]. Một mô hình in vivo khác năm 2021 cho thấy hợp chất CD giúp cải thiện tình trạng viêm ruột (IBD) do azoxymethane/dextran sodium sulfate gây ra trên động vật, làm giảm thâm nhiễm tế bào lympho và sưng hạch bạch huyết [3].

Tuy vậy, toàn bộ các dữ liệu này hoàn toàn chỉ dừng lại ở quy mô ống nghiệm tế bào và mô hình động vật thí nghiệm [1, 5, 7]. Chưa từng có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào được tiến hành trên cơ thể bệnh nhân ung thư người đối với các loài cây này.

Nguy cơ khi tự ý dùng cây nhọc để trị bệnh

Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng khái niệm "tiêu diệt tế bào ung thư trong đĩa thí nghiệm" với "chữa khỏi bệnh ung thư ở người". Trong đĩa petri, nhiều hóa chất mạnh có thể giết chết tế bào ung thư một cách dễ dàng. Tuy nhiên, khi đưa vào cơ thể sống, một loại thuốc tiềm năng phải trải qua quá trình hấp thu, chuyển hóa, phân bố đến đúng khối u mà không gây hại cho mô lành.

Đáng lưu ý, nghiên cứu năm 2013 đã chỉ rõ: hoạt chất DMMA chiết từ rễ cây nhọc không chỉ tấn công tế bào ung thư mà còn làm suy giảm khả năng sống của các tế bào đơn nhân máu ngoại vi bình thường của con người [2]. Điều này cho thấy hoạt chất có thể gây độc cho chính các tế bào miễn dịch và mô khỏe mạnh.

Việc tự ý thu hái, sắc uống cây nhọc mà bỏ qua phác đồ điều trị chuẩn của y học hiện đại (phẫu thuật, hóa trị, xạ trị) là quyết định vô cùng nguy hiểm. Người bệnh có thể bỏ lỡ giai đoạn vàng để kiểm soát bệnh tật, khiến khối u tiến triển nặng hơn.

Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Hiện nay, các nghiên cứu khoa học về cây nhọc mới chỉ thực hiện trên dòng tế bào nuôi cấy và chuột nhắt trắng [1, 7]. Chưa có dữ liệu nghiên cứu về tính an toàn hay hiệu quả của cây nhọc trên phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú, trẻ em hoặc người cao tuổi.

Những người đang mắc bệnh lý nền về gan, thận hoặc bệnh nhân đang tiếp nhận các phác đồ điều trị ung thư tuyệt đối không được tự ý sử dụng các chế phẩm thô từ cây nhọc. Nguy cơ tương tác thuốc và độc tính tích lũy từ thảo mộc thô chưa qua tinh chế là điều khó kiểm soát.

Lời khuyên áp dụng thực tế

Cây nhọc hay các loài thuộc chi Polyalthia hiện chỉ được cộng đồng khoa học xem là nguồn nguyên liệu tiềm năng để tiếp tục phân lập, sàng lọc các hợp chất hóa học mới dùng cho nghiên cứu dược phẩm trong tương lai [5, 8]. Người dân không nên coi đây là vị thuốc có thể tự sử dụng tại nhà để phòng hay chữa bệnh.

Khi phát hiện các dấu hiệu bất thường về sức khỏe hoặc đã được chẩn đoán mắc ung thư, người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa ung bướu. Mọi ý định sử dụng bất kỳ loại thảo dược hoặc thực phẩm hỗ trợ nào luôn cần được trao đổi, tham vấn trực tiếp với bác sĩ điều trị để đảm bảo an toàn tính mạng.