Nhiều người thức dậy mỗi sáng với cảm giác mắt cộm rát, đỏ ngầu hoặc cay xè, đặc biệt khi bật điều hòa hoặc máy sưởi suốt đêm. Khô mắt trong phòng ngủ là vấn đề phổ biến do không khí kín và khô hanh làm tăng tốc độ mất nước trên bề mặt nhãn cầu. Việc sử dụng máy tạo độ ẩm là giải pháp đơn giản giúp làm chậm quá trình bốc hơi màng nước mắt, bảo vệ giác mạc và mang lại cảm giác dễ chịu suốt giấc ngủ.

Bật máy tạo độ ẩm giúp tăng độ ẩm tương đối trong không gian sống, từ đó giảm thiểu sự bốc hơi nước mắt và củng cố độ bền vững của lớp phim nước mắt. Những bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc can thiệp vào độ ẩm không khí mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc giảm khô rát mắt và bảo vệ bề mặt nhãn cầu.

Cơ chế bốc hơi của màng nước mắt khi độ ẩm thay đổi

Bề mặt nhãn cầu được bao phủ bởi một màng nước mắt mỏng gồm ba lớp chính: lớp nhầy ở trong cùng, lớp nước ở giữa và lớp mỡ ngoài cùng giúp hạn chế bay hơi. Bệnh khô mắt thường xuất phát từ sự bốc hơi quá mức của nước mắt, sự giảm tiết nước mắt hoặc kết hợp cả hai yếu tố [1]. Khi chúng ta ngủ trong môi trường bật máy lạnh, độ ẩm tương đối của không khí thường giảm xuống rất thấp.

Độ ẩm môi trường thấp tạo ra sự chênh lệch áp suất hơi nước lớn giữa bề mặt nhãn cầu và không khí xung quanh, khiến nước từ lớp phim nước mắt bốc hơi nhanh chóng. Khi màng nước mắt bị đứt gãy sớm, các tế bào biểu mô giác mạc không còn được bôi trơn và bảo vệ, dẫn đến các phản ứng viêm, cảm giác cộm xốn, rát bỏng và đỏ mắt. Việc bổ sung độ ẩm vào không khí xung quanh giúp thu hẹp độ chênh lệch này, làm chậm lại quá trình bay hơi tự nhiên và giữ cho màng nước mắt ổn định lâu hơn trên giác mạc.

Môi trường độ ẩm thấp tác động tiêu cực thế nào đến mắt?

Các nghiên cứu quan sát trên quy mô lớn đã chứng minh môi trường không khí khô tác động rất xấu đến sức khỏe của mắt và đường hô hấp.

Một nghiên cứu dịch tễ học thực hiện trên 3.154 công nhân Đài Loan không có tiền sử bệnh ngoài da đã so sánh các triệu chứng khô giữa nhóm làm việc trong phòng sạch có độ ẩm tương đối khoảng 55 ± 5% và nhóm làm việc ở điều kiện độ ẩm khoảng 65 ± 5% [2]. Kết quả cho thấy nhóm công nhân làm việc trong phòng sạch có tỷ lệ xuất hiện triệu chứng khô mắt cao hơn đáng kể với tỷ số chênh đã hiệu chỉnh (AOR) là 1,30 (khoảng tin cậy 95%: 1,06 đến 1,60) [2]. Ngoài ra, họ còn gặp nguy cơ cao bị khô mũi họng với AOR là 1,70 và khô da [2]. Điều đáng nói là mức độ ẩm 55% không phải là quá thấp, nhưng đối với những người quen sống ở vùng khí hậu nhiệt đới có độ ẩm cao, việc chuyển sang môi trường có độ ẩm tương đối thấp hơn vẫn gây khô mắt và niêm mạc rõ rệt [2].

Một nghiên cứu khác theo dõi công nhân làm việc trong phòng sạch với độ ẩm cực thấp (dưới hoặc bằng 1%) qua 3 năm cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng khô mắt từ độ 1 trở lên tăng dần đều qua từng năm: từ 14,8% năm 2011 lên 27,1% năm 2012 và chạm mức 32,8% vào năm 2013 [3]. Các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận rằng trong các môi trường mô phỏng có độ ẩm tương đối giảm xuống mức 9% đến 28% (tương đương độ ẩm khoang máy bay), hội chứng khô mắt cũng thường xuyên xuất hiện ở cả những người trưởng thành khỏe mạnh [3].

Bên cạnh độ ẩm, nhiệt độ phòng cũng đóng vai trò then chốt trong việc gia tăng cảm giác khô. Nghiên cứu về môi trường văn phòng kéo dài 6 tuần với hơn 460 lượt khảo sát cho thấy cường độ triệu chứng khô và cảm giác khô không khí tăng lên theo mỗi đơn vị tăng nhiệt độ trên 22 độ C ở cả điều kiện có tạo ẩm lẫn không tạo ẩm [4]. Tuy nhiên, các triệu chứng chung của Hội chứng nhà kín chỉ gia tăng theo nhiệt độ khi không khí trong nhà không được bù ẩm [4].

Máy tạo độ ẩm giúp cải thiện màng nước mắt ra sao qua các thử nghiệm?

Các can thiệp làm tăng độ ẩm cục bộ đã mang lại những thay đổi khách quan trên màng nước mắt được đo lường cụ thể qua các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên.

Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng công bố năm 2024, 31 người tham gia được chia thành hai nhóm sử dụng máy tạo độ ẩm vi sương quang xúc tác để bàn: nhóm có phun sương và nhóm không phun sương [5]. Các đối tượng thực hiện thao tác trên màn hình điện tử trong vòng 1 giờ [5]. Kết quả cho thấy điểm số triệu chứng khó chịu ở mắt giảm rõ rệt ở nhóm có máy tạo độ ẩm ngay sau khi làm việc và kéo dài đến 1,5 giờ sau đó (lần lượt với p < 0,001 và p = 0,006) [5]. Chiều cao liềm nước mắt (tear meniscus height) ở nhóm dùng máy tạo độ ẩm cao hơn đáng kể và thời gian vỡ màng nước mắt không xâm lấn (NIBUT) dài hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (lần lượt p < 0,001 và p = 0,040) [5]. Hiện tượng tắc các lỗ tuyến meibomius mi mắt cũng giảm đáng kể chỉ ở nhóm có máy tạo ẩm ngay sau thử nghiệm và duy trì đến 1,5 giờ tiếp theo (p = 0,004 và p = 0,016) [5].

Một thử nghiệm chéo ngẫu nhiên mù đơn khác thực hiện tại New Zealand trên 44 người dùng máy tính nhằm đánh giá hiệu quả của máy tạo độ ẩm để bàn cắm cổng USB [6]. Thiết bị này giúp làm tăng độ ẩm tương đối của môi trường xung quanh thêm 5,4 ± 5,0% (p < 0,001) [6]. Sau 1 giờ sử dụng máy tính liên tục, thời gian vỡ màng nước mắt không xâm lấn trung vị ở môi trường có máy tạo ẩm đã tăng thêm 4,0 giây so với môi trường không bù ẩm (p < 0,001) [6]. Sự cải thiện tính ổn định của màng nước mắt này đi kèm với tỷ lệ người tham gia cảm thấy thoải mái hơn tăng vọt lên 36%, so với chỉ 5% ở nhóm không có máy tạo ẩm (p < 0,001) [6]. Ngược lại, có tới 48% đối tượng không dùng máy tạo ẩm ghi nhận cảm giác khó chịu tăng lên, trong khi nhóm dùng máy tạo ẩm chỉ có 7% cảm thấy khó chịu [7].

Các giải pháp tạo buồng ẩm bảo vệ cũng cho kết quả tương tự. Thử nghiệm trên 18 người bị khô mắt đeo kính tạo độ ẩm siêu âm trong 10 phút cho thấy thời gian vỡ màng nước mắt (TBUT), tần số chớp mắt và thang điểm khó chịu VAS đều cải thiện vượt trội so với khi không kích hoạt phun sương (toàn bộ p < 0,001) [1]. Một nghiên cứu khác sử dụng kính bơi tạo buồng ẩm kín trong 20 phút trên 100 người bị khô mắt do bay hơi ghi nhận 99% người tham gia tăng mức độ thoải mái cho mắt, so với 24% ở nhóm chứng dùng kính bỏ tròng [7]. Đối với những người bị khô mắt do thiếu nước mắt tiếp xúc với gió quạt ở khoảng cách 3 m, việc đeo kính có khoang cung cấp ẩm giúp điểm khô mắt duy trì ổn định, trong khi người không đeo kính hoặc đeo kính thường bị tăng mạnh cảm giác khô rát (từ mức ~15-20% vọt lên ~30-35%, p < 0,05) [7].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng máy tạo độ ẩm cho mắt

Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần bật máy tạo ẩm là có thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh khô mắt. Trên thực tế, máy tạo ẩm chỉ là biện pháp hỗ trợ môi trường nhằm làm giảm tốc độ bốc hơi nước mắt và cải thiện độ ổn định màng phim nước mắt [3, 4]. Nếu nguyên nhân khô mắt bắt nguồn từ các bệnh lý phức tạp như rối loạn chức năng tuyến meibomius nặng, thiếu hụt sản xuất nước mắt nội tại do hội chứng tự miễn hay viêm bờ mi mạn tính, người bệnh bắt buộc phải được bác sĩ nhãn khoa chẩn đoán và điều trị theo phác đồ chuyên khoa.

Một sai lầm khác là quan niệm độ ẩm càng cao thì càng tốt cho mắt. Không khí quá ẩm ướt trong phòng ngủ kín là môi trường thuận lợi để nấm mốc và mạt bụi sinh sôi, từ đó kích hoạt các phản ứng dị ứng mắt, viêm kết mạc hoặc các bệnh hô hấp dị ứng. Hơn nữa, việc để luồng hơi sương từ máy tạo ẩm thổi thẳng trực tiếp vào mặt có thể gây phản tác dụng do tạo luồng gió cơ học gây khó chịu cho bề mặt giác mạc.

Ai nên thận trọng khi sử dụng máy tạo độ ẩm?

Người có tiền sử mắc các bệnh dị ứng cơ địa hoặc gia đình có tiền sử bệnh atopi cần đặc biệt cẩn trọng. Dữ liệu cho thấy tiền sử gia đình mắc bệnh atopi là một yếu tố nguy cơ độc lập gây ra các triệu chứng ngoài da và kích ứng khi môi trường không khí thay đổi (AOR = 1,75) [2]. Việc sử dụng máy tạo ẩm không vệ sinh định kỳ có thể làm phân tán nấm mốc, vi khuẩn và độc tố vào không khí, gây kích phát cơn hen phế quản hoặc viêm mũi dị ứng.

Những người có tiền sử dùng thuốc nhỏ mắt chứa chất bảo quản như benzalkonium chloride cũng cần lưu ý theo dõi sức khỏe mắt kỹ càng, do các hoạt chất này có thể gây tổn thương tích lũy cho biểu mô bề mặt nhãn cầu [3]. Nếu mắt đang bị nhiễm trùng cấp tính như viêm loét giác mạc, viêm kết mạc mủ hoặc đau nhức dữ dội, người bệnh không nên tự ý dựa vào máy tạo ẩm mà cần đến bệnh viện khám chuyên khoa ngay.

Hướng dẫn sử dụng máy tạo độ ẩm phòng ngủ đúng cách

Để bảo vệ màng nước mắt và cải thiện tình trạng khô mắt hiệu quả mà vẫn đảm bảo an toàn sức khỏe hô hấp, bạn có thể thực hiện theo các bước sau:

  • Kiểm soát độ ẩm mục tiêu: Duy trì độ ẩm tương đối trong phòng ngủ ở mức cân bằng, lý tưởng từ 50% đến 65%. Tránh để phòng quá khô tương tự mức dưới 55% như môi trường phòng sạch vốn đã ghi nhận làm tăng tỷ lệ khô mắt [2], nhưng cũng không nên để độ ẩm vượt quá 70%.
  • Kiểm soát nhiệt độ phòng: Giữ nhiệt độ điều hòa trong phòng ở mức vừa phải, tránh cài đặt nhiệt độ quá ấm trên 22 độ C vì nhiệt độ cao làm gia tăng rõ rệt cảm giác khô rát không khí và khô mắt [4].
  • Vị trí đặt máy: Đặt máy tạo ẩm cách giường ngủ ít nhất 1-2 mét, nâng cao khỏi mặt sàn khoảng 0,5 đến 1 mét để sương khuếch tán đều vào không gian phòng. Tuyệt đối không để vòi phun phả hơi sương trực diện vào mặt hay mắt khi ngủ.
  • Vệ sinh máy định kỳ: Sử dụng nước tinh khiết hoặc nước đun sôi để nguội để tránh cặn khoáng. Đổ bỏ nước thừa mỗi ngày, cọ rửa bình chứa và để khô ráo định kỳ nhằm ngăn ngừa màng sinh học và nấm mốc phát triển.
  • Phối hợp chăm sóc mắt: Kết hợp uống đủ nước trong ngày và chớp mắt đầy đủ, đặc biệt với những người thường xuyên làm việc với màn hình máy tính trước khi đi ngủ, do thói quen nhìn chăm chú làm giảm tần số chớp mắt và giảm tiết nước mắt [6, 7].

Tóm lại, việc sử dụng máy tạo độ ẩm trong phòng ngủ là một can thiệp môi trường hữu hiệu giúp kéo dài thời gian vỡ màng nước mắt và hạn chế bốc hơi bề mặt nhãn cầu [3, 4]. Để đạt hiệu quả tối ưu, bạn cần duy trì độ ẩm phòng hợp lý, vệ sinh thiết bị sạch sẽ và chủ động tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa mắt nếu các triệu chứng khô rát mắt kéo dài dai dẳng.