Thắc mắc phổ biến về tác dụng của lá thường xuân

Nhiều người khi bị ho có đờm thường tìm đến siro chiết xuất từ lá thường xuân (Hedera helix). Thói quen này xuất phát từ các kinh nghiệm dân gian và các thông tin quảng cáo về khả năng làm long đờm, giãn phế quản của thảo dược này.

Tuy nhiên, các dữ liệu thực nghiệm sinh học hiện nay chưa trực tiếp cung cấp bằng chứng cho giả thuyết kích thích thụ thể beta-2 adrenergic để làm loãng đờm từ các tài liệu được kiểm chứng. Các nghiên cứu chuyên sâu về chiết xuất lá thường xuân tập trung vào phản ứng cơ trơn dạ dày, hoạt tính độc tế bào, kháng nấm và kháng ký sinh trùng [1, 2, 3, 4].

Hoạt chất saponin trong thường xuân tác động ra sao?

Chiết xuất khô của lá thường xuân chứa các hợp chất saponin triterpenoid chủ yếu là hederacoside C và alpha-hederin [1]. Về mặt truyền thống, người ta thường tin rằng các hoạt chất này có tác dụng chống co thắt phế quản hoặc làm loãng dịch tiết đường hô hấp [1].

Mặc dù vậy, khi kiểm tra thực nghiệm sinh lý học, chiết xuất thường xuân và các saponin này lại thể hiện tác dụng gây co thắt mạnh trên các dải cơ trơn dạ dày cô lập của chuột [1]. Trong số các thành phần phân lập, alpha-hederin thể hiện hoạt tính kích thích co thắt mạnh nhất [1]. Điều này cho thấy hoạt tính sinh học của saponin thường xuân trên cơ trơn ống tiêu hóa hoàn toàn khác biệt so với niềm tin về tác động giãn cơ [1].

Dữ liệu thực nghiệm về cơ chế co thắt

Một nghiên cứu công bố năm 2012 đã tiến hành kiểm tra trên các dải mô dạ dày cô lập của chuột (vùng thân và đáy dạ dày) nhằm đánh giá xem con đường cholinergic có tham gia vào cơ chế gây co thắt của alpha-hederin hay không [1]. Các mẫu mô được đặt trong điều kiện đẳng trương và cho tiếp xúc với chất phong bế thụ thể [1].

Nhóm nghiên cứu đã xử lý trước các mẫu mô với atropine (chất ức chế thụ thể muscarinic) hoặc hexamethonium (chất ức chế thụ thể nicotinic) rồi mới cho tiếp xúc với alpha-hederin [1]. Kết quả cho thấy atropine không ngăn chặn cũng không làm giảm đáng kể phản ứng co thắt của dải dạ dày đối với alpha-hederin [1]. Tương tự, việc dùng hexamethonium trước cũng không làm thay đổi lực co bóp của dải đáy dạ dày [1]. Thí nghiệm này đi đến kết luận rằng các con đường cholinergic (thụ thể muscarinic và nicotinic) không tham gia vào phản ứng co thắt dạ dày do alpha-hederin tạo ra [1]. Dữ liệu này không tìm thấy tác động trực tiếp của alpha-hederin lên thụ thể beta-2 adrenergic trong việc làm loãng đờm [1].

Các hoạt tính sinh học khác của alpha-hederin

Bên cạnh việc thử nghiệm trên mô dạ dày, alpha-hederin từ lá thường xuân được nghiên cứu nhiều ở góc độ tiêu diệt mầm bệnh và ức chế tế bào ung thư [2, 3, 4]. Nghiên cứu năm 2014 sử dụng thư viện 1.152 chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae đột biến để tìm hiểu cơ chế kháng vi nấm Candida albicans của chiết xuất thường xuân chứa alpha-hederin [2]. Kết quả cho thấy tác động của chất này ức chế nấm men tương tự thuốc caspofungin, tác động vào vách tế bào nấm chứ không gây độc thuần túy qua phá vỡ màng aminophospholipid [2].

Năm 2000, một nghiên cứu in vitro khác phân tích ba saponin từ thường xuân gồm alpha-hederin, beta-hederin và hederacolchiside A1 trên ký sinh trùng Leishmania infantum và tế bào bạch cầu đơn nhân người THP1 [3]. Các saponin gây ức chế tăng sinh ký sinh trùng bằng cách làm thay đổi tính toàn vẹn và điện thế màng, đồng thời ức chế tổng hợp DNA của bạch cầu [3].

Ở mảng tế bào ác tính, nghiên cứu năm 2025 chỉ ra alpha-hederin kích hoạt hiện tượng ferroptosis (chết tế bào qua tích tụ sắt và peroxy hóa lipid) ở tế bào ung thư vú bộ ba âm tính, làm cạn kiệt glutathione, tăng gốc tự do ROS và ức chế GPX4 [4]. Cơ chế này cũng tương đồng với nghiên cứu năm 2003 trên tế bào bạch cầu chuột P388 và nghiên cứu năm 2014 trên tế bào ung thư vú, nơi saponin làm suy giảm glutathione nội bào và giải phóng cytochrome c gây chết tế bào [6, 8].

Nghiên cứu năm 2016 trên hai dòng tế bào ung thư bạch cầu đơn nhân cũng chứng minh alpha-hederin tương tác phụ thuộc vào cholesterol trên màng tế bào, dẫn đến hình thành lỗ thủng và làm biến đổi hình thái màng [5]. Ngoài ra, nghiên cứu năm 2002 phát hiện alpha-hederin làm tăng tiết nitric oxide (NO) và tăng biểu hiện gen iNOS trong đại thực bào chuột thông qua phức hợp phiên mã NF-kappa B [6].

Bằng chứng khoa học và giới hạn hiện tại

Tổng hợp các bằng chứng nghiên cứu công bố cho thấy các giả thuyết thường gặp về việc hederacoside C chuyển hóa thành alpha-hederin để kích thích thụ thể beta-2 adrenergic, kích hoạt biểu mô phế quản tiết dịch làm loãng đờm chưa được chứng minh trong các tài liệu khoa học này. Hầu hết các thử nghiệm sinh hóa chuyên sâu mới chỉ ghi nhận tác dụng kích thích co bóp cơ trơn dạ dày, tương tác màng cholesterol, kích hoạt stress oxy hóa hoặc gây độc tế bào [1, 2, 5, 6].

Hơn nữa, các thử nghiệm về co thắt cơ trơn dạ dày chỉ thực hiện trên mô chuột cô lập, chưa thể ngoại suy hoàn toàn thành các phản xạ thần kinh - phế quản trên cơ thể người sống [1]. Các hoạt tính chống ung thư hay kháng nấm, kháng ký sinh trùng đều là thử nghiệm in vitro trên tế bào hoặc mô hình động vật bệnh lý, không đại diện cho tác dụng loãng đờm đường hô hấp thông thường [2, 3, 4, 6].

Những hiểu lầm cần tránh khi dùng lá thường xuân

Nhiều người lầm tưởng rằng dịch chiết thường xuân là thảo dược lành tính có thể dùng tùy tiện không giới hạn liều lượng. Thực tế, các saponin triterpenoid như alpha-hederin có hoạt tính phá vỡ cấu trúc màng qua liên kết cholesterol và có khả năng gây co thắt cơ trơn tiêu hóa [1, 5].

Một sai lầm khác là tự ý hái lá thường xuân tươi để đun nước uống nhằm tự trị ho, tiêu đờm. Lá tươi chứa hỗn hợp saponin thô và các chất gây độc tế bào chưa qua tinh chế hay định lượng, có thể gây tổn thương niêm mạc dạ dày hoặc phản ứng phụ toàn thân nghiêm trọng [1, 4, 5].

Nhóm đối tượng cần thận trọng

Dựa trên dữ liệu saponin gây co thắt cơ trơn dạ dày độc lập với hệ cholinergic, những người có bệnh lý viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày thực quản nên cẩn trọng khi dùng các chế phẩm chứa chiết xuất lá thường xuân [1]. Phản ứng co cơ có thể làm gia tăng cảm giác khó chịu hoặc kích ứng đường tiêu hóa [1].

Hiện tại chưa có nghiên cứu chứng minh độ an toàn trên phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ trong các tài liệu thực nghiệm này. Hoạt tính gây độc tế bào và thay đổi tính thấm màng của saponin đòi hỏi các nhóm đối tượng nhạy cảm này không được tự ý dùng chiết xuất thường xuân khi chưa có chỉ định y khoa [4, 5]. Người đang mắc các bệnh lý nền mạn tính hoặc đang dùng thuốc điều trị cần hỏi ý kiến bác sĩ.

Lời khuyên áp dụng an toàn trong đời sống

Người tiêu dùng không nên tự chế biến lá thường xuân tươi tại nhà dưới bất kỳ hình thức nào. Nếu có nhu cầu sử dụng để hỗ trợ đường hô hấp, chỉ nên dùng các sản phẩm thương mại đã được kiểm nghiệm, có số đăng ký lưu hành rõ ràng.

Khi sử dụng, cần tuân thủ đúng liều lượng ghi trên nhãn hoặc hướng dẫn của dược sĩ, bác sĩ chuyên khoa. Không tự ý tăng liều khi thấy triệu chứng ho, đờm chưa thuyên giảm. Duy trì việc uống đủ nước ấm hàng ngày, súc họng bằng nước muối sinh lý và nghỉ ngơi hợp lý là các biện pháp cơ bản giúp hỗ trợ làm loãng dịch tiết đường thở tự nhiên mà không gây hại cho đường tiêu hóa.