Lẩu gà lá é hay canh gà lá é từ lâu đã trở thành món ăn quen thuộc, đặc biệt được ưa chuộng khi thời tiết trở lạnh hoặc khi cơ thể cảm thấy mệt mỏi, ớn lạnh. Trong dân gian, nhiều người truyền tai nhau rằng ăn canh gà nấu lá é có thể giúp giải cảm, hạ sốt nhanh chóng và tiêu diệt vi khuẩn đường hô hấp hay tiêu hóa. Thói quen sử dụng này khiến không ít người xem lá é như một vị thuốc kháng sinh tự nhiên có thể thay thế thuốc điều trị khi bị sốt hoặc nhiễm trùng.
Thực tế, các hợp chất tinh dầu tự nhiên chiết xuất từ lá é và các loài thuộc chi húng quế đã được chứng minh có đặc tính kháng khuẩn, kháng viêm mạnh trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, việc ăn một bát canh gà nấu lá é không đồng nghĩa với việc nạp đủ liều lượng dược chất để trị dứt điểm nhiễm trùng hay lập tức hạ sốt như kỳ vọng. Tác dụng giải cảm phần lớn đến từ hơi nóng của nước dùng kết hợp với mùi thơm tinh dầu kích thích thông mũi, chứ món ăn này không thể thay thế phác đồ điều trị y khoa.
Cơ chế tác động kháng khuẩn của tinh dầu lá é
Lá é thuộc chi Ocimum (chi Húng quế), nhóm thực vật nổi tiếng tích tụ lượng lớn tinh dầu dễ bay hơi trong các tuyến lông ở bề mặt lá. Về mặt sinh hóa, các nhà khoa học xác định hoạt tính kháng khuẩn của các loài chi này phụ thuộc lớn vào cấu trúc phân tử của tinh dầu. Cụ thể, nhóm hóa học mang hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất là phenol, tiếp theo sau là aldehyde, ketone, alcohol, ether và cuối cùng là hydrocarbon [1]. Tác dụng diệt khuẩn của tinh dầu bắt nguồn từ khung hydrocarbon có tính ưa mỡ (lipophilic) kết hợp với các nhóm chức ưa nước (hydrophilic) [1].
Nhờ đặc tính ưa mỡ này, các phân tử tinh dầu dễ dàng liên kết, hòa tan và làm biến dạng màng tế bào lipid của vi khuẩn cũng như vi nấm. Điển hình như hợp chất thymol có khả năng tương tác với protein Sec A ở vách tế bào vi khuẩn nhằm làm gián đoạn quá trình vận chuyển và cấu trúc của thành tế bào [2]. Khi lớp màng bảo vệ bị xuyên thủng, vi khuẩn sẽ mất cân bằng nội mô, rò rỉ chất nguyên sinh và dẫn tới tiêu vong. Ngoài ra, các hợp chất phenolic như eugenol đóng vai trò thiết yếu giúp quét sạch các gốc tự do, mang lại khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ [3].
Các nghiên cứu quốc tế ghi nhận gì về hoạt tính sinh học của lá é?
Rất nhiều thử nghiệm trên thế giới đã tiến hành đánh giá chi tiết phổ kháng khuẩn và các hoạt tính sinh học từ tinh dầu các loài thuộc chi Ocimum.
Năm 1989, một nghiên cứu tại Rwanda đã sàng lọc tinh dầu của 4 loài Ocimum gồm O. canum, O. gratissimum, O. trichodon và O. urticifolium [4]. Bằng các kỹ thuật biogram, phủ thạch và phương pháp pha loãng xác định độ pha loãng ức chế tối đa (MID), các nhà khoa học đã thử nghiệm trên vi khuẩn gram âm Escherichia coli, vi khuẩn gram dương Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus và vi nấm Trichophyton mentagrophytes var. interdigitale [4]. Kết quả ghi nhận dù phương pháp khuếch tán cho thấy mức độ ức chế khác nhau giữa các mẫu tinh dầu, tất cả mẫu thử đều thể hiện hoạt tính kháng vi sinh vật rõ rệt [4].
Đến năm 2003, nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tinh dầu chiết từ lá tươi của loài Ocimum gratissimum tại Cameroon cũng cho kết quả khả quan [5]. Thử nghiệm cho thấy tinh dầu lá tươi tạo ra các vòng ức chế vi sinh vật lan rộng, khẳng định đây là hệ thống kháng khuẩn tự nhiên rất hiệu quả [5].
Bước sang năm 2008, một nghiên cứu sâu hơn thu thập tinh dầu lá Ocimum gratissimum L. từ 13 quần thể thuộc các vùng sinh thái rừng khác nhau tại Kenya [6]. Thử nghiệm kiểm tra khả năng ức chế vi khuẩn gram dương (S. aureus, Bacillus spp.), gram âm (E. coli, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella typhi, Klebsiella pneumoniae, Proteus mirabilis) và nấm Candida albicans [6]. Kết quả cho thấy toàn bộ tinh dầu đều có hoạt tính kháng vi sinh vật với mức độ khác nhau tùy vùng địa lý [6]. Tinh dầu vùng Meru cho hiệu quả ức chế cao nhất và ổn định nhất trên S. aureus, P. aeruginosa và P. mirabilis, trong khi tinh dầu vùng ven biển Mombasa phát huy tác dụng tốt nhất trên các chủng gram âm E. coli và P. mirabilis [6]. Phân tích hóa học ghi nhận monoterpene chiếm 92,48% ở mẫu Meru và 81,37% ở mẫu Mombasa [6]. Thành phần monoterpene nổi bật là eugenol (chiếm 68,8% ở Meru và 74,10% ở Mombasa), cùng với methyl eugenol (13,21%), camphor (0,95% ở mẫu Meru), (cis)-ocimene, (trans)-ocimene và beta-pinene [6]. Phân đoạn sesquiterpene cũng ghi nhận sự hiện diện của germacrene D, (trans)-caryophyllene, alpha-farnesene (0,85%) và beta-bisabolene (0,74%) [6].
Năm 2014, một đánh giá về ứng dụng điều trị mụn trứng cá đã nhấn mạnh chế phẩm dầu Ocimum gratissimum dạng nền cetomacrogol có độ dung nạp tốt, đạt hiệu quả cao và làm giảm tổn thương mụn nhanh hơn cả kem thoa benzoyl peroxide 10% [3]. Đặc biệt, sự kết hợp giữa gel lô hội và dầu Ocimum cho hiệu quả vượt trội hơn kem bôi kháng sinh clindamycin 1% trong trị mụn [3]. Nghiên cứu cũng xác nhận tinh dầu Ocimum basilicum và Ocimum sanctum sở hữu các đặc tính kháng khuẩn, kháng viêm và chống oxy hóa, với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đối với vi khuẩn P. acnes lần lượt là 2,0% và 3,0% thể tích [3].
Năm 2016, nghiên cứu về hoạt tính ức chế enzyme acetylcholinesterase (chỉ số quan trọng trong truyền dẫn thần kinh) đã phân tích 4 loài: O. basilicum, O. africanum, O. americanum và O. minimum [7]. Cả 4 loài đều thể hiện khả năng ức chế đáng kể với giá trị IC50 lần lượt là 0,22; 0,175; 0,57 và 0,152 mg/mL, có thể so sánh trực tiếp với chất đối chứng chuẩn physostigmine (IC50 đạt 0,27 mg/mL) [7]. Trong đó, estragole thể hiện hoạt tính ức chế mạnh nhất với IC50 đạt 0,337 microM, tiếp theo là cineole (2,27 microM), camphor (21,43 microM) và eugenol (40,32 microM) [7].
Năm 2018, thử nghiệm đối sánh hoạt tính kháng nấm trên các chủng Candida albicans cho thấy tinh dầu Ocimum selloi ức chế chủng ATCC 3719 và ATCC 11006 ở nồng độ 1250 microgam/mL [1]. Loài Ocimum micranthum thể hiện khả năng ức chế lần lượt ở nồng độ 1250 microgam/mL và 625 microgam/mL [1]. Ngược lại, tinh dầu từ loài americanum và basilicum phân loài purpurascens cần nồng độ MIC rất cao lên tới 5000 microgam/mL để ức chế chủng ATCC 11006 và không ức chế được chủng ATCC 3719 [1]. Điều này giải thích rằng sự dao động về dược tính sinh học phụ thuộc mật thiết vào thổ nhưỡng, khí hậu và hàm lượng eugenol của từng giống cây [1].
Năm 2020, nghiên cứu tinh dầu lá Ocimum viride ghi nhận hàm lượng lớn monoterpene oxy hóa gồm thymol (khoảng 50%) và gamma-terpinene (khoảng 18%) [2]. Tinh dầu này nhạy cảm mạnh nhất trước vi khuẩn Bacillus subtilis và ức chế dòng tế bào ung thư đại tràng HT-29 với giá trị IC50 khoảng 0,034 +- 0,001 microL/mL thông qua cơ chế kích hoạt chết tế bào theo chương trình (apoptosis) [2].
Năm 2022, nghiên cứu chiết xuất tinh dầu Ocimum bằng phương pháp chưng cất có sóng siêu âm hỗ trợ cho thấy O. gratissimum đạt hiệu quả diệt khuẩn cao nhất đối với S. aureus và S. enteritidis, trong khi O. basilicum ức chế mạnh nhất với P. aeruginosa [8]. Đối với chủng E. coli, cả hai loại tinh dầu O. basilicum và O. gratissimum đều phát huy hiệu quả ngăn chặn khả năng tăng sinh của vi khuẩn tương đương nhau [8]. Ngoài ra, thử nghiệm diệt ấu trùng muỗi ghi nhận muỗi Aedes aegypti nhạy cảm mạnh với tinh dầu O. basilicum và O. gratissimum, tiếp theo là O. canum và O. tenuiflorum [8]. Ấu trùng loài muỗi Armigeres subalbatus cũng bị ức chế mạnh nhất bởi tinh dầu O. gratissimum rồi đến O. basilicum [8]. Đáng chú ý, thử nghiệm độc tính trên cá bảy màu cho thấy không có độc tính đáng kể hay thay đổi hành vi bất thường nào ngay cả ở các nồng độ thử nghiệm cao nhất [8].
Khoảng cách từ ống nghiệm đến nồi canh gà lá é
Các bằng chứng khoa học nêu trên đều tập trung nghiên cứu trên tinh dầu nguyên chất được chiết xuất bằng công nghệ hiện đại như chưng cất lôi cuốn hơi nước hoặc chưng cất có sóng siêu âm hỗ trợ [2, 8]. Nồng độ hoạt chất trong các nghiên cứu này ở mức cô đặc rất cao và được tiếp xúc trực tiếp với vi sinh vật trong đĩa thạch hoặc môi trường nuôi cấy nhân tạo [2, 3].
Khi đem lá é nấu canh gà, hàm lượng tinh dầu thực tế mà cơ thể hấp thu qua đường tiêu hóa là rất nhỏ. Tinh dầu chứa các phân tử monoterpene rất dễ bay hơi [6]. Nếu người nấu cho lá é vào nồi nước sôi đang sùng sục và đun lâu, phần lớn các hoạt chất quý như eugenol, thymol hay camphor sẽ bốc hơi theo làn khói [4, 8]. Do đó, lượng dược chất còn sót lại trong nước canh và bã lá khó lòng đạt tới ngưỡng nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) để tiêu diệt các ổ vi khuẩn gây viêm họng, nhiễm khuẩn hô hấp hay nhiễm trùng nội tạng [2, 6].
Bên cạnh đó, các dữ liệu khoa học hiện có hoàn toàn chưa có thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh ăn lá é giúp hạ thân nhiệt khi bị sốt. Cảm giác toát mồ hôi, dễ chịu sau khi húp bát canh gà lá é nóng phần lớn là phản xạ sinh lý của cơ thể trước nhiệt độ của nước canh nóng và tác dụng thông thoáng đường thở tạm thời do hít phải hương thơm tinh dầu.
Những hiểu lầm tai hại khi tự chữa bệnh bằng lá é
Nhiều người khi xuất hiện triệu chứng sốt cao, đau họng hoặc viêm xoang thường tự ý trì hoãn việc đi khám bác sĩ và chỉ tập trung ăn canh gà lá é để "trừ sốt" và "kháng sinh tự nhiên". Đây là quan niệm sai lầm có thể dẫn tới các biến chứng nghiêm trọng.
Lá é là một loại rau thơm gia vị tuyệt vời giàu chất chống oxy hóa [3], nhưng không phải là thuốc hạ sốt paracetamol hay kháng sinh đường uống. Hoạt tính chống viêm hay kháng khuẩn trong phòng thí nghiệm không tương đương với dược động học trong cơ thể người [3]. Nếu bị sốt do nhiễm khuẩn cấp tính, sốt xuất huyết hoặc sốt virus, việc phụ thuộc vào món ăn sẽ bỏ lỡ thời điểm vàng điều trị.
Một hiểu lầm khác là việc lạm dụng tinh dầu lá é đậm đặc để uống hoặc nhỏ trực tiếp vào họng nhằm chữa bệnh. Tinh dầu nguyên chất có tính phân cực và khả năng xuyên thấu cao, có thể gây bỏng rát niêm mạc miệng, thực quản hoặc kích ứng dạ dày nếu không được pha chế đúng chuẩn y tế.
Những ai cần thận trọng khi sử dụng?
Dù lá é rất lành tính khi ăn ở mức độ rau gia vị thông thường, một số nhóm đối tượng vẫn cần lưu ý thận trọng:
- Người có cơ địa dị ứng: Những người từng bị dị ứng với các loại cây thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae) như húng quế, bạc hà, hương thảo cần thận trọng khi ăn lá é để tránh nguy cơ nổi mề đay hoặc khó thở.
- Người đang dùng thuốc điều trị thần kinh hoặc thuốc ức chế enzyme: Tinh dầu một số loài Ocimum có khả năng ức chế mạnh enzyme acetylcholinesterase [7]. Người đang điều trị bệnh lý thần kinh hoặc dùng thuốc theo đơn chuyên khoa cần tham khảo ý kiến bác sĩ để tránh hiện tượng tương tác sinh học không mong muốn.
- Phụ nữ có thai và người chuẩn bị phẫu thuật: Thành phần tinh dầu chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh như eugenol [6]. Việc ăn quá nhiều lá é đậm đặc hoặc dùng chế phẩm chiết xuất chưa qua kiểm định có thể tiềm ẩn nguy cơ tác động đến tuần hoàn máu.
Cách chế biến và sử dụng lá é giữ trọn giá trị
Để thưởng thức món canh gà lá é thơm ngon và giữ được tối đa các hợp chất thơm tự nhiên có lợi cho sức khỏe, bạn nên áp dụng các bước chế biến sau:
- Thời điểm cho rau vào nồi: Tinh dầu monoterpene rất dễ bay hơi ở nhiệt độ cao [6]. Do đó, hãy hầm gà cho chín mềm trước. Khi chuẩn bị tắt bếp hoặc khi ăn lẩu, mới thả lá é tươi vào nồi nước dùng đang sôi lăn tăn, nhúng nhanh khoảng 1-2 phút rồi vớt ra thưởng thức ngay.
- Lượng dùng hợp lý: Mỗi bữa ăn chỉ nên dùng khoảng 50 - 100g lá é tươi cho cả gia đình. Không nên ép lấy nước cốt đậm đặc với lượng lớn để uống thay thuốc.
- Kết hợp thực phẩm: Sự kết hợp giữa thịt gà giàu đạm, nước hầm ấm nóng và lá é tươi giàu hợp chất chống oxy hóa [3] sẽ tạo thành bữa ăn bồi bổ thể lực, hỗ trợ hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn khi thời tiết giao mùa.
Canh gà nấu lá é là món ăn thơm ngon, bổ dưỡng và đem lại cảm giác ấm bụng, khoan khoái cho người dùng. Dù tinh dầu lá é sở hữu nhiều tiềm năng kháng khuẩn và chống oxy hóa đáng nể trong ống nghiệm [2, 6], món ăn này không thể đóng vai trò như một bài thuốc hạ sốt hay diệt khuẩn thần kỳ thay thế y khoa. Hãy duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng, giữ ấm cơ thể và luôn thăm khám bác sĩ chuyên khoa khi xuất hiện các triệu chứng sốt kéo dài.




