Nhiều người Việt có thói quen dùng lá bạc hà tươi pha trà hoặc uống nước lá mỗi khi đầy bụng. Bạc hà thơm mát, dễ chịu nên thường bị xem là lành tính tuyệt đối, uống lúc nào cũng được. Tuy nhiên, nếu bạn đang dùng thuốc điều trị mạn tính, việc uống đậm đặc loại thảo mộc này cùng lúc có thể tiềm ẩn rủi ro tương tác bất lợi.

Khi dùng chung với thuốc tân dược, các hoạt chất sinh học tự nhiên trong bạc hà có thể can thiệp vào tiến trình chuyển hóa thuốc tại gan. Hệ quả là nồng độ thuốc trong máu bị thay đổi, dễ dẫn đến nguy cơ tăng độc tính hoặc làm suy giảm tác dụng chữa bệnh mong muốn.

Khám phá thành phần sinh học của bạc hà

Bạc hà (tên khoa học phổ biến là Mentha arvensis) từ lâu đã được y học cổ truyền ứng dụng nhằm hỗ trợ tiêu hóa, kháng khuẩn và giảm đau. Y học hiện đại cũng dành nhiều sự quan tâm đến loài thực vật này nhờ kho tàng hoạt chất đa dạng.

Một nghiên cứu công bố năm 2023 đã phân tích thành phần hóa thực vật của chiết xuất ethanol từ Mentha arvensis bằng phương pháp sắc ký lỏng khối phổ [1]. Nhóm nghiên cứu đã định lượng và xác định được nhiều hợp chất quan trọng gồm axit oleanolic, axit rosmarinic, luteolin, isoorientin và axit ursolic [1].

Thử nghiệm sinh học in vitro trong công trình này cho thấy chiết xuất bạc hà có hoạt tính ức chế vi khuẩn Klebsiella pneumoniae đạt mức 13,39 +- 0,16 [1]. Ngoài ra, dịch chiết thể hiện khả năng ức chế men alpha-glucosidase với tỷ lệ 58,36 +- 0,12% và men alpha-amylase ở mức 42,18 +- 0,83% [1]. Chiết xuất này còn ngăn chặn đáng kể sự phát triển của dòng tế bào ung thư gan HepG2 [1]. Các mô hình mô phỏng in-silico xác nhận luteolin và axit rosmarinic có đặc tính phân tử giống thuốc và gắn kết mạnh vào các vị trí hoạt động của enzyme [1]. Những dữ liệu này chứng minh bạc hà chứa các hoạt chất có dược tính mạnh, tác động trực tiếp lên nhiều enzyme trong cơ thể.

Tác động bảo vệ dạ dày và liều lượng thực nghiệm

Bên cạnh tiềm năng kháng khuẩn, bạc hà còn được nghiên cứu về khả năng bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa. Năm 2009, một nghiên cứu trên động vật đã kiểm tra tác động chống loét dạ dày của các phân đoạn chiết xuất từ Mentha arvensis Linn trên chuột cống và chuột nhắt [2].

Trong thử nghiệm độ độc cấp tính, các loại chiết xuất thô (ete dầu hỏa, cloroform, chiết xuất nước) dùng qua đường uống ở liều 2 g/kg không gây ra bất kỳ dấu hiệu nhiễm độc nào trên động vật [2]. Khi tiến hành mô hình thắt môn vị trên chuột Wistar (mỗi nhóm gồm 6 con), các chiết xuất này được cho uống ở liều 375 mg/kg, so sánh với ranitidine 60 mg/kg và nhóm chứng [2].

Kết quả ghi nhận chiết xuất nước làm giảm bài tiết axit và chỉ số loét dạ dày tới 67,0%, trong khi cloroform giảm 59,2% và ete dầu hỏa giảm 53,4% (thuốc chuẩn ranitidine giảm 68,7%) [2]. Ở mô hình gây loét bằng axit HCl 0,6 mol/L trên chuột cống (n = 6), điểm số vết loét giảm 67,5% ở nhóm dùng chiết xuất nước [2]. Ở mô hình loét do ethanol 90% trên chuột nhắt (n = 6), chiết xuất nước cũng giúp giảm 65,4% điểm thương tổn [2]. Tiền xử lý bằng bạc hà tạo ra tác động chống tiết axit đáng kể với giá trị 49,3 +- 0,49 so với 12,0 +- 0,57 ở nhóm chứng (p < 0,001), chứng minh hoạt tính chống loét dạ dày ở liều 375 mg/kg thể trọng [2].

Dù có hiệu quả trên niêm mạc tiêu hóa, các phân tử sinh học khi được hấp thu vào máu sẽ đi thẳng tới gan. Tại đây, chúng có thể trở thành yếu tố gây nhiễu cho hoạt động của các enzyme đảm nhận nhiệm vụ giải độc thuốc.

Hệ enzyme gan CYP450 và nguy cơ tương tác

Gan là cơ quan chính chịu trách nhiệm chuyển hóa hầu hết các loại thuốc tây mà chúng ta uống mỗi ngày. Quá trình này được vận hành chủ yếu bởi hệ thống enzyme cytochrom P450 (gọi tắt là CYP450). Nếu có một chất ức chế các enzyme này, thuốc sẽ chậm bị phân hủy, tích tụ lại trong máu và gây ngộ độc. Ngược lại, nếu enzyme bị kích thích quá mức, thuốc bị đào thải quá nhanh khiến hiệu quả điều trị biến mất.

Tầm quan trọng của hệ enzyme CYP450 được làm rõ qua một nghiên cứu lâm sàng tiến hành năm 2011 trên 100 bệnh nhân cao tuổi nhập viện, có tình trạng đa đơn thuốc (uống từ 5 loại thuốc trở lên) [3]. Bệnh nhân có độ tuổi trung bình 82,3 tuổi (từ 65 đến 96 tuổi), dùng trung bình 12,2 loại thuốc mỗi ngày [3]. Bằng việc sử dụng phần mềm hỗ trợ InterMED-Rx, các chuyên gia phát hiện có tới 80% bệnh nhân gặp ít nhất một tương tác thuốc liên quan đến enzyme CYP450 [3].

Nghiên cứu đã ghi nhận tổng cộng 238 tương tác thuốc qua CYP450 [3]. Trong số đó, các tương tác liên quan đến enzyme CYP3A4 chiếm tỷ lệ áp đảo nhất là 70,2%, tiếp theo là CYP2D6 chiếm 22,7% và CYP2C9 chiếm 3,4% [3]. Hậu quả là 19% bệnh nhân phải chỉnh liều thuốc khẩn cấp ngay lập tức, 39% cần theo dõi sát các dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm [3]. Trong số những người cần theo dõi đó, có hơn 56% trường hợp sau đó đã phải điều chỉnh đơn thuốc trước khi được xuất viện [3]. Điều này cho thấy hệ CYP450, đặc biệt là phân nhóm CYP3A4, cực kỳ nhạy cảm và dễ dẫn đến rủi ro lâm sàng nếu bị can thiệp.

Hoạt chất thảo mộc ảnh hưởng chuyển hóa thuốc thế nào?

Bạc hà chứa nhiều polyphenol, flavonoid và tinh dầu giàu menthol. Nguồn cung tinh dầu và hàm lượng hoạt chất này trong tự nhiên phụ thuộc nhiều vào điều kiện canh tác. Chẳng hạn, một nghiên cứu năm 2013 ghi nhận việc chủng nấm rễ nội cộng sinh Glomus mosseae và Glomus intraradices trên cây bạc hà cay (Mentha arvensis) giúp cây giảm thất thoát năng suất khi gặp mặn (chỉ mất 27,53% và 25,58% so với mức mất 51,00% ở cây không cấy nấm), đồng thời giúp nâng cao tỷ lệ lá trên thân cũng như tích lũy hàm lượng menthol cao hơn hẳn trong tinh dầu [4].

Khi cơ thể dung nạp nồng độ cao các tinh chất thảo mộc tự nhiên, chúng có khả năng ức chế các enzyme cytochrom tương tự các loại tân dược. Nghiên cứu năm 2020 trên một chế phẩm đa thảo dược (MenoAct851) đã làm sáng tỏ cơ chế này trong thử nghiệm ức chế CYP450 ở microsome gan chuột và thử nghiệm lâm sàng trên người [5]. Nồng độ CYP450 trung bình trong mẫu thử microsome gan được tính toán là 0,405 +- 0,12 nmol/mg [5].

Chế phẩm thảo dược cho thấy khả năng ức chế CYP450 phụ thuộc vào nồng độ [5]. Giá trị nồng độ ức chế một nửa (IC50) đối với CYP3A4 là 11,96 +- 1,04 microg/mL và đối với CYP2D6 là 15,24 +- 0,58 microg/mL [5]. Tiềm năng ức chế chung của chế phẩm thảo mộc đạt 41,16 +- 1,24% (dù yếu hơn chất đối chứng ketoconazole) [5]. Khi đánh giá tương tác dược động học trên 24 phụ nữ khỏe mạnh dùng liều 500 mg hai lần mỗi ngày trong 14 ngày, sau đó uống 40 mg thuốc hạ mỡ máu simvastatin vào ngày thứ 15, các nhà khoa học cảnh báo thảo dược có khả năng ảnh hưởng rõ rệt đến mức độ phơi nhiễm của simvastatin trong cơ thể [5].

Simvastatin là thuốc hạ cholesterol phổ biến bậc nhất, chuyển hóa chính qua men CYP3A4. Khi men này bị chặn lại, simvastatin tồn đọng lâu trong máu, làm tăng nguy cơ tổn thương cơ và men gan. Bên cạnh nhóm hạ mỡ máu, các thuốc điều trị tăng huyết áp (như nhóm chẹn kênh canxi) cũng phụ thuộc chuyển hóa vào chính enzyme CYP3A4 này. Uống thảo mộc ức chế enzyme có thể khiến huyết áp tụt sâu ngoài ý muốn.

Mức độ nhạy cảm của hệ CYP450 còn được chứng minh qua nhiều nghiên cứu khác. Một nghiên cứu trên chuột Swiss Webster năm 2002 cho thấy methylphenidate liều cao duy nhất làm giảm 50% tổng lượng CYP450 ở gan, ức chế 50% hoạt tính CYP1A, CYP2E1 và giảm 30% mức polypeptide của CYP3A [6]. Khi dùng đường uống liều thấp kéo dài 2 tuần ở mức 5 và 10 mg/kg/ngày, tổng CYP450 gan cũng giảm từ 1,34 +- 0,01 nmol/mg xuống 0,96 +- 0,01 nmol/mg và 0,96 +- 0,06 nmol/mg (p < 0,05), trong đó hoạt tính CYP1A giảm tới 50% [6].

Ở người, đột biến gen làm giảm chức năng enzyme kết hợp cùng thảo dược hay thuốc ức chế đi kèm có thể gây hại nghiêm trọng. Một phân tích năm 2011 trên 10 bệnh nhân gặp hội chứng bồn chồn bất an (akathisia) nặng dẫn đến bạo lực khi dùng thuốc chống trầm cảm cho thấy tất cả đều mang alen biến thể ở các gen CYP2D6, CYP2C9 hoặc CYP2C19 [7]. Đáng chú ý, có tới 8 trong số 10 người này đồng thời sử dụng thêm các loại thuốc hoặc thảo mộc có tương tác, làm suy giảm chuyển hóa thuốc trầm trọng hơn [7].

Tuy nhiên, không phải mọi hợp chất đều ức chế men gan. Nghiên cứu năm 2011 đánh giá chất chủ vận beta-2 trantinterol trên microsome gan người cho thấy chất này không hề ức chế CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A4/5 (giá trị IC50 > 100 muM), chỉ ức chế rất yếu CYP1A2 (IC50 là 70,8 muM) và CYP2C9 (IC50 là 81,9 muM) [8]. Thử nghiệm trên tế bào gan đông lạnh người (n = 3) được điều trị 3 ngày với các nồng độ 0,01, 0,1 và 1 ng/ml cũng cho thấy ở liều 0,01 ng/ml trantinterol chỉ tạo hiệu ứng cảm ứng khoảng 8% so với omeprazole, và ở liều 1 ng/ml chỉ bằng 3,6 +- 3,1% so với rifampin [8]. Nghiên cứu kết luận trantinterol không gây ức chế hay cảm ứng CYP450 có ý nghĩa trên lâm sàng [8]. Điều này nhấn mạnh rằng mỗi chất sinh học có mức độ tác động hoàn toàn khác nhau lên gan.

Ai cần đặc biệt thận trọng khi dùng bạc hà?

Do khả năng can thiệp vào quá trình đào thải của gan, không phải ai cũng có thể thoải mái sử dụng bạc hà ở liều lượng đậm đặc. Những đối tượng sau đây cần hết sức lưu tâm:

  • Người đang điều trị tăng huyết áp bằng các nhóm thuốc chẹn kênh canxi được chuyển hóa qua gan.
  • Bệnh nhân mỡ máu cao đang sử dụng các thuốc nhóm statin (điển hình như simvastatin).
  • Người cao tuổi mắc nhiều bệnh nền, phải dùng cùng lúc từ 5 loại thuốc trở lên (polypharmacy), nhóm đối tượng mà nguy cơ tương tác thuốc qua CYP3A4 lên tới 70,2% [3].
  • Bệnh nhân đang sử dụng các thuốc thần kinh, thuốc chống trầm cảm cần sự ổn định nồng độ máu khắt khe.
  • Người có tiền sử suy giảm chức năng gan, viêm gan mạn tính hoặc xơ gan.

Hướng dẫn sử dụng bạc hà an toàn hàng ngày

Để tận dụng hương vị sảng khoái và lợi ích hỗ trợ tiêu hóa của bạc hà mà không làm xáo trộn việc uống thuốc tây, bạn nên áp dụng các nguyên tắc sau:

Khoảng cách thời gian: Tuyệt đối không dùng nước trà bạc hà hoặc tinh dầu bạc hà để uống thuốc. Luôn uống thuốc tây hoàn toàn bằng nước lọc ấm. Nên giãn cách thời điểm uống trà bạc hà hoặc dùng món ăn chứa bạc hà cách xa thời điểm uống thuốc tây ít nhất từ 2 đến 3 giờ.

Kiểm soát liều lượng: Chỉ nên sử dụng vài ngọn lá bạc hà tươi (khoảng 3-5 lá) để tạo hương vị thơm thoang thoảng cho thức uống. Không nên tự ý sắc nước lá bạc hà thật đặc hoặc uống các loại nước ép thảo mộc đậm đặc mỗi ngày.

Thận trọng tối đa với tinh dầu: Tinh dầu bạc hà chứa nồng độ menthol cô đặc cực kỳ cao, gấp nhiều lần so với lá tươi. Không tự ý nhỏ tinh dầu bạc hà vào nước để uống, đặc biệt khi đang theo liệu trình thuốc của bác sĩ.

Kết hợp chế độ sống: Nếu muốn hỗ trợ tiêu hóa hoặc hạ huyết áp, hạ mỡ máu, hãy ưu tiên lối sống lành mạnh, ăn giảm muối, hạn chế mỡ động vật và vận động đều đặn thay vì lạm dụng các loại nước lá thảo dược chưa rõ liều an toàn.

Bạc hà là loại thảo mộc tự nhiên mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe nếu dùng đúng chừng mực. Tuy nhiên, thảo dược hoàn toàn không thể thay thế phác đồ điều trị của y học hiện đại và tiềm ẩn tương tác qua men gan CYP450. Khi đang dùng thuốc điều trị mạn tính, bạn hãy luôn hỏi ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi quyết định uống kèm bất kỳ loại nước lá đậm đặc nào.