Nhiều người tiêu dùng chuyển sang sử dụng muối biển thô vì tin rằng sản phẩm tự nhiên này giàu khoáng chất và an toàn hơn muối tinh luyện. Tuy nhiên, rác thải nhựa đại dương đang khiến nguồn gia vị quen thuộc này đối mặt nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng.
Các phân tích khoa học xác nhận muối biển thô thương mại tại nhiều nơi trên thế giới đều chứa vi nhựa [1]. Mặc dù vậy, nguy cơ ngộ độc cấp tính đường tiêu hóa ở người dùng thông thường chưa được ghi nhận rõ ràng, nhưng tiềm ẩn rủi ro tích lũy lâu dài [4, 8].
Vi nhựa xâm nhập vào muối biển như thế nào?
Muối biển được sản xuất chủ yếu qua quá trình bốc hơi nước biển dưới ánh nắng mặt trời [2]. Khi các vùng nước mặt đại dương bị ô nhiễm bởi rác thải nhựa, các mảnh nhựa bị sóng và gió nghiền nhỏ thành những hạt có kích thước dưới 5 mm gọi là vi nhựa [5, 6]. Nguồn nước chứa tạp chất này đi thẳng vào các ruộng muối và kết tinh lại thành hạt muối thành phẩm [1, 7].
Bên cạnh nguồn nước nguyên liệu, chính quy trình chế biến, công cụ thu hoạch và bao bì đóng gói cũng đóng góp một phần lượng hạt nhựa vào sản phẩm muối thương phẩm [4, 8]. Điều này lý giải vì sao hầu như mọi loại muối có nguồn gốc từ biển đều mang theo dấu vết của vi nhựa [1].
Cơ chế tác động đến hệ tiêu hóa
Khi xâm nhập vào ống tiêu hóa qua đường ăn uống, các hạt vi nhựa tác động theo hai cơ chế chính: vật lý và hóa học [3]. Về mặt vật lý, vi nhựa không có chất phụ gia hóa học tuy không độc tính nội tại nhưng có thể gây cản trở cơ học như tắc ruột ở các sinh vật sống [4]. Chúng có thể kích hoạt hoặc làm tăng phản ứng miễn dịch cục bộ tại niêm mạc ruột người tiêu dùng [3].
Về mặt hóa học, vi nhựa hoạt động như chất mang độc chất [4]. Bề mặt hạt nhựa hấp thụ các chất ô nhiễm từ môi trường nước biển và sau đó có thể giải phóng các monome cấu thành hoặc các chất phụ gia độc hại vào cơ thể sau khi ăn [6, 8]. Độc tính này phụ thuộc vào liều lượng và thời gian phơi nhiễm kéo dài qua nhiều năm [3].
Bằng chứng từ các nghiên cứu thực tế
Ô nhiễm vi nhựa trong muối biển không phải hiện tượng cục bộ mà mang tính toàn cầu. Một tổng quan nghiên cứu năm 2021 ghi nhận vi nhựa xuất hiện trong các mẫu muối thương mại của 128 nhãn hiệu đến từ 38 nguồn tại nhiều quốc gia trên khắp 5 châu lục [1].
Năm 2018, nghiên cứu kiểm tra toàn bộ 8 nhãn hiệu muối biển tại Ấn Độ phát hiện 100% mẫu đều nhiễm vi nhựa [5]. Mật độ dao động từ 56 ± 49 đến 103 ± 39 hạt/kg muối, với tổng khối lượng ước tính 63,76 µg/kg muối [5]. Thành phần chủ yếu là các hạt mảnh và sợi dạng polyester, PET, polyamide, polyethylene và polystyrene; trong đó 80% sợi có kích thước dưới 2.000 µm và hạt mảnh dưới 500 µm [5].
Năm 2021, khảo sát tại Java, Indonesia so sánh các phương pháp phơi muối truyền thống, dùng màng địa kỹ thuật và hệ thống hầm bốc hơi [2]. Kết quả chỉ ra phương pháp làm muối truyền thống làm đọng lại mật độ vi nhựa cao hơn đáng kể so với phương pháp lót màng địa kỹ thuật hay dùng hầm che chắn [2].
Năm 2023, một nghiên cứu tại châu Âu phân tích 13 loại muối biển bằng phương pháp xử lý dung dịch H2O2 30%, lọc qua màng lọc 5 µm và soi kính hiển vi kết hợp quang phổ Raman [6]. Kết quả cho thấy nồng độ vi nhựa trung bình là 466 ± 152 hạt/kg (dao động 74 - 1.155 hạt/kg) [6]. Đáng chú ý, muối thu hoạch thủ công truyền thống ở châu Âu lại ít vi nhựa hơn các mẫu thu hoạch theo quy mô công nghiệp [6].
Năm 2023 tại Indonesia, phân tích so sánh 10 mẫu muối (5 mẫu thương mại, 5 mẫu sản xuất ven biển Semiringkai, Kupang) bằng phương pháp soi kính hiển vi cho thấy cả hai nhóm đều chứa vi nhựa, chênh lệch giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê với P = 0,065 [7].
Năm 2024, nghiên cứu tại bờ biển phía đông Ấn Độ khảo sát 22 loài cá ướp muối và muối biển thương mại [8]. Muối biển tại trạm số 2 ghi nhận mức ô nhiễm rất cao, trung bình 23,53 ± 4,2 hạt/g muối (tương đương hơn 23.000 hạt/kg), trong đó 70% là các sợi và mảnh vụn nhỏ hơn 250 µm, chủ yếu là nhựa PVC và PS (> 55%), xếp vào nhóm chỉ số nguy cơ độc hại cao [8].
Mức độ rủi ro sức khỏe thực tế
Mặc dù nồng độ vi nhựa trong muối biển được ghi nhận ở nhiều nơi, nguy cơ sức khỏe trực tiếp vẫn cần được đánh giá khách quan. Nghiên cứu tại châu Âu tính toán rằng một người chỉ hấp thụ khoảng 14 µg vi nhựa (dưới 12 hạt) mỗi năm vào cơ thể, và chỉ khoảng 1/4 lượng này bắt nguồn từ thói quen ăn muối biển [6].
Nhiều tác động tiêu cực của vi nhựa (chủ yếu là polystyrene) trên thực tế chỉ mới được ghi nhận trong các thử nghiệm sử dụng nồng độ vi nhựa rất cao so với mức cơ thể người bình thường phơi nhiễm qua thực phẩm hằng ngày [1]. Đến nay, tính độc hại thực sự của việc nuốt phải vi nhựa ở liều lượng thông thường vẫn chưa có đủ bằng chứng lâm sàng trực tiếp trên người do thiếu chuẩn hóa phương pháp lấy mẫu [3, 4]. Vi nhựa đã được tìm thấy trong phân và nhau thai người, nhưng các tác hại bệnh lý cụ thể vẫn đang được tiếp tục theo dõi [4].
Những hiểu lầm thường gặp
Quan niệm muối biển thô, tự nhiên thì tinh khiết và an toàn tuyệt đối là sai lầm phổ biến. Thực tế, nước biển bốc hơi tự nhiên giữ lại toàn bộ tạp chất không bay hơi, bao gồm cả vi nhựa trôi nổi [1, 6].
Một hiểu lầm khác là lo sợ vi nhựa trong muối gây thủng ruột hay ngộ độc cấp tính ngay lập tức. Độc tính của hạt nhựa nếu có chủ yếu mang tính tích lũy mạn tính từ từ qua việc hấp thụ các chất phụ gia rò rỉ hoặc chất bám dính [3]. Bản thân việc ăn quá nhiều muối natri đã được chứng minh rõ ràng gây hại cho tim mạch và huyết áp, nguy hiểm hơn nhiều so với rủi ro hạt vi nhựa nuốt phải từ lượng muối đó [6].
Nhóm đối tượng cần thận trọng
Người mắc bệnh tiêu hóa mạn tính như viêm ruột, hội chứng ruột kích thích nên cẩn trọng, bởi các hạt ngoại lai có thể làm gia tăng phản ứng kích ứng niêm mạc tại các vùng ruột đang tổn thương [3].
Phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ cần lưu ý hạn chế phơi nhiễm các hóa chất rò rỉ từ nhựa, do vi nhựa đã ghi nhận khả năng xuất hiện trong mô nhau thai [4]. Nhóm người có bệnh tim mạch, cao huyết áp cần tuân thủ chế độ ăn giảm mặn nghiêm ngặt theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị để kiểm soát huyết áp, không tự ý dùng muối biển thô số lượng lớn vì lầm tưởng tốt cho sức khỏe [6].
Lời khuyên áp dụng trong đời sống
Người tiêu dùng không cần quá hoang mang loại bỏ hoàn toàn muối biển nhưng nên sử dụng hợp lý:
- Tiết giảm lượng muối ăn hàng ngày: Giảm natri vừa bảo vệ hệ tim mạch, vừa trực tiếp cắt giảm lượng vi nhựa đưa vào cơ thể mỗi năm [6].
- Lựa chọn nguồn cung cấp uy tín: Nghiên cứu công nghệ xử lý cho thấy kỹ thuật lọc cát đơn giản đối với nước biển nhân tạo ô nhiễm có thể loại bỏ hơn 85% khối lượng và hơn 90% số lượng hạt vi nhựa trước khi cho bốc hơi làm muối [5]. Ưu tiên các nhà sản xuất có quy trình kiểm soát chất lượng và lọc sạch nước biển [1, 7].
- Chế biến sạch: Bảo quản muối trong hũ thủy tinh kín, tránh để bụi nhựa từ môi trường sống rơi vào thực phẩm khi nấu nướng.
Muối biển thô thương mại có chứa vi nhựa do ảnh hưởng từ tình trạng ô nhiễm rác thải đại dương toàn cầu [1, 3]. Dù lượng hấp thụ thực tế hàng năm từ muối còn khá nhỏ và chưa đủ bằng chứng gây hại tiêu hóa cấp tính [3, 4], người dân nên duy trì thói quen ăn giảm mặn để bảo vệ toàn diện sức khỏe tim mạch lẫn tiêu hóa [6].





