Nhiều người có thói quen tìm kiếm các loại nước uống kiềm hóa để giảm nhanh cảm giác ợ chua, nóng rát dạ dày. Lời đồn về khả năng trung hòa hoàn toàn axit và chữa lành các tổn thương tiêu hóa khiến trào lưu dùng nước kiềm ngày càng lan rộng.

Thực tế, nước kiềm không thể dễ dàng thay đổi nồng độ axit trong dạ dày hay thay thế thuốc điều trị. Cơ chế đệm tự nhiên của hệ tiêu hóa con người vốn rất mạnh mẽ, khiến những tác động kiềm hóa từ nguồn nước bên ngoài trở nên rất giới hạn.

Cơ chế đệm mạnh mẽ của dạ dày trước dung dịch kiềm

Dạ dày người luôn duy trì môi trường axit clohydric nồng độ cao để tiêu hóa thức ăn và ngăn chặn vi khuẩn. Khi có sự biến động pH, các tế bào niêm mạc sẽ lập tức điều chỉnh để giữ vững trạng thái cân bằng sinh lý.

Một nghiên cứu sinh lý học ghi nhận trên 3 bệnh nhân loét tá tràng cho thấy, đáp ứng tiết axit dạ dày trước tình trạng hạ đường huyết do insulin không hề khác biệt giữa việc truyền dung dịch đệm kiềm pH 8,3 và việc truyền nước lọc thông thường vào dạ dày [1]. Điều này chứng minh sự hiện diện cục bộ của một dung dịch kiềm nhẹ không đủ sức ức chế hoạt động bài tiết axit của niêm mạc. Ngược lại, chính sự hiện diện của axit ngoại sinh nồng độ 0,1 M HCl mới làm giảm mạnh thể tích bài tiết dịch vị từ 35% đến 56% [1].

Bên cạnh đó, sau các bữa ăn, cơ thể có hiện tượng sinh lý tự nhiên gọi là "thủy triều kiềm" trong máu [2]. Sự kiềm hóa máu và nước tiểu này tỷ lệ thuận với lượng axit mà dạ dày vừa tiết ra để tiêu hóa [2]. Do đó, dạ dày hoàn toàn chủ động điều hòa cân bằng axit - bazơ nội môi mà không phụ thuộc vào tính kiềm từ nước uống.

Tác động thực tế lên vận động dạ dày thay vì trung hòa axit

Nhiều giả thuyết cho rằng nước khoáng kiềm mang lại tác dụng nhờ vào việc thúc đẩy vận động tiêu hóa hơn là làm mất đi axit dịch vị. Các thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra rõ khía cạnh vận động này.

Một thử nghiệm trên 10 người khỏe mạnh thực hiện ăn bữa ăn tiêu chuẩn 800 calo (gồm 60% glucid, 20% protid, 20% lipid) kết hợp uống 400 ml nước khoáng kiềm bicarbonate so sánh với nước máy thường [3]. Kết quả qua siêu âm cho thấy nước khoáng kiềm làm tăng tốc độ làm rỗng dạ dày tại các mốc 30 phút, 60 phút và 120 phút [3]. Tuy nhiên, tổng thời gian làm rỗng dạ dày sau cùng lại không có sự khác biệt giữa hai loại nước [3]. Ngoài ra, nước khoáng kiềm lại làm giảm mức độ rỗng của túi mật ở các thời điểm 60 và 120 phút so với nước máy [3].

Như vậy, cảm giác nhẹ bụng hay bớt tức bụng sau uống nước kiềm bản chất bắt nguồn từ sự gia tăng vận động co bóp và tốc độ tống xuất thức ăn ban đầu của dạ dày [3]. Nước kiềm không loại bỏ lượng axit vốn có một cách thụ động như lời đồn.

Nghiên cứu lâm sàng về chứng khó tiêu chức năng

Để làm rõ lợi ích thực tiễn, một nghiên cứu kết hợp tiền lâm sàng và lâm sàng đã theo dõi bệnh nhân khó tiêu chức năng không có tổn thương tiêu hóa và không nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori trong vòng 3 tháng trước đó [4].

Ở nhóm bệnh nhân này, việc sử dụng 1,5 lít nước khoáng kiềm bicarbonate mỗi ngày trong 30 ngày liên tục ghi nhận sự thuyên giảm các triệu chứng đau thượng vị, nóng rát sau xương ức, đầy bụng sau ăn và trướng dạ dày [4]. Động vật thí nghiệm uống loại nước này trong 30 ngày bị thắt môn vị lại cho thấy sự gia tăng tiết axit, bài tiết pepsinogen và tăng tốc độ làm rỗng dạ dày [4]. Tác động này bị chặn đứng bởi chất đối kháng thụ thể gastrin/CCK-2 là L-365,260 [4].

Kết quả trên chứng minh nước khoáng kiềm bicarbonate cải thiện triệu chứng khó tiêu chức năng nhờ tăng cường chức năng vận động và bài tiết của dạ dày, chứ không hề làm giảm tiết axit [4]. Sự gia tăng bài tiết dịch vị và pepsinogen này hoàn toàn đối nghịch với niềm tin rằng nước kiềm sẽ làm teo giảm lượng axit tiêu hóa.

Nước kiềm trong hội chứng ruột kích thích

Ngoài khó tiêu, nước điện giải kiềm hóa cũng được đưa vào các thử nghiệm khảo sát bệnh lý đại tràng. Một thử nghiệm thí điểm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược năm 2018 đã theo dõi việc uống nước điện giải kiềm hóa trong 8 tuần trên bệnh nhân hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy [5].

Dữ liệu ghi nhận không có tác dụng phụ đặc hiệu nào liên quan trực tiếp đến việc uống nước điện giải kiềm hóa suốt 8 tuần thử nghiệm [5]. Tuy vậy, trong tuần thứ hai, một bệnh nhân thuộc nhóm chứng dùng nước giả dược đã phải nhập viện cấp cứu do nôn và đau bụng, sau đó hồi phục nhờ điều trị bảo tồn [5].

Thử nghiệm này ghi nhận tính an toàn ngắn hạn nhưng bằng chứng lâm sàng về hiệu quả điều trị vượt trội vẫn chưa đủ vững chắc [5]. Các báo cáo y khoa trước đó chỉ ra rằng nước điện giải kiềm hóa có thể làm biến tính vĩnh viễn men pepsin trong các mô hình động vật viêm dạ dày, song chưa có đủ thử nghiệm đối chứng quy mô lớn khẳng định giá trị chữa bệnh dứt điểm ở người [5].

Nguy cơ tiềm ẩn khi môi trường dạ dày bị kiềm hóa quá mức

Axit dạ dày đóng vai trò như một tấm lá chắn tự nhiên ngăn cản vi sinh vật gây hại đi sâu vào đường ruột. Khi nồng độ axit bị triệt tiêu, nguy cơ nhiễm khuẩn sẽ tăng vọt.

Một nghiên cứu tiến cứu mù đôi trên 70 bệnh nhân phẫu thuật mạch máu lớn đã phân chia bệnh nhân thành hai nhóm dựa trên độ pH dịch vị sau điều trị (nhóm kiềm hóa có trên 80% số lần đo đạt pH > 4,5 và nhóm axit) [6]. Kết quả cho thấy nhóm có dạ dày bị kiềm hóa có tỷ lệ cấy dịch vị dương tính với vi khuẩn lên tới 58,1% (25/43 bệnh nhân), cao hơn hẳn so với mức 14,8% (4/27 bệnh nhân) ở nhóm giữ môi trường axit [6].

Nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ chảy máu dạ dày vi thể là 53,4% ở nhóm kiềm hóa so với 33,3% ở nhóm duy trì axit [6]. Tổng cộng có 9 bệnh nhân chảy máu tiêu hóa đại thể (4 người ở nhóm kiềm và 5 người ở nhóm axit), qua nội soi phát hiện bệnh dạ dày trợt xước, loét dạ dày và loét tá tràng [6]. Tổn thương chảy máu không tương quan thuận với độ pH dịch vị mà liên quan đến thời gian kẹp động mạch chủ và điểm số hậu phẫu [6]. Việc kiềm hóa dịch vị quá mức do đó không ngăn được loét hay xuất huyết, mà ngược lại tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn sinh sôi [6].

Hiểu lầm thường gặp về việc chữa bệnh bằng nước kiềm

Sai lầm phổ biến nhất là đánh đồng nước kiềm ion hóa với các thuốc ức chế axit chuyên biệt. Trên thực tế, cơ chế sinh bệnh học của viêm loét tá tràng rất phức tạp. Bệnh nhân loét tá tràng bị suy giảm đáng kể lượng bài tiết bicarbonate tự nhiên của dạ dày ở cả giai đoạn cơ bản lẫn kích thích, với tỷ lệ bài tiết kiềm/axit giảm tới 3 lần [7].

Sự mất cân bằng này chỉ được phục hồi khi sử dụng các thuốc ức chế thụ thể H2-histamine như ranitidine, giúp tái lập thăng bằng kiềm - toan [7]. Uống nước kiềm thông thường không thể can thiệp sâu vào chu trình thụ thể tế bào niêm mạc như dược phẩm.

Ngoài ra, việc tự ý thay đổi pH dịch vị bằng các dung dịch kiềm có thể gây xáo trộn khả năng hấp thu thuốc điều trị. Điển hình như ketoconazole, một loại thuốc kiềm yếu không tan trong nước, sẽ gặp vấn đề lớn về hấp thu ở những người bị giảm hoặc mất axit dạ dày [8]. Thuốc phải nhờ đến các dạng bào chế phức hợp sợi trao đổi ion đặc biệt mới giải phóng tốt qua cơ chế trao đổi ion ở môi trường lỏng chứa ion tự do, từ đó mới giảm bớt sự dao động sinh khả dụng do biến thiên pH dịch vị gây ra [8]. Tự ý uống nước kiềm cùng lúc với thuốc có thể làm sai lệch nồng độ hấp thu của nhiều loại dược chất quan trọng.

Những ai cần thận trọng trước khi dùng nước kiềm

Mặc dù việc sử dụng nước khoáng kiềm được đánh giá là an toàn trong ngắn hạn ở người khỏe mạnh [5], một số nhóm đối tượng tuyệt đối không nên lạm dụng:

  • Người cao tuổi hoặc người mắc chứng vô toan dạ dày: Môi trường kiềm hóa dễ khiến dịch vị mất hàng rào bảo vệ, dẫn tới nguy cơ bùng phát vi khuẩn đường ruột [6].
  • Bệnh nhân đang sử dụng các loại thuốc phụ thuộc vào môi trường axit để hấp thu, chẳng hạn thuốc kháng nấm kiềm yếu như ketoconazole [8].
  • Bệnh nhân mắc viêm loét dạ dày tá tràng tiến triển: Sự thiếu hụt bicarbonate nội sinh cần được can thiệp bằng phác đồ y khoa chuẩn hóa để lập lại thăng bằng [7], không thể tự bù đắp bằng nước uống kiềm.

Cách áp dụng thực tế và lời khuyên khoa học

Nếu muốn sử dụng nước khoáng kiềm bicarbonate như một nguồn cung cấp nước bổ sung hàng ngày, bạn có thể tham khảo các hướng dẫn sau:

  • Lượng dùng: Duy trì mức tiêu thụ hợp lý tương đương các nghiên cứu thử nghiệm, khoảng 1,5 lít mỗi ngày trong các đợt ngắn 30 ngày để hỗ trợ cải thiện tình trạng đầy trướng bụng hoặc khó tiêu chức năng [4].
  • Thời điểm uống: Với người muốn thúc đẩy làm rỗng dạ dày sau bữa ăn nhiều dinh dưỡng, có thể uống khoảng 400 ml nước khoáng kiềm sau bữa ăn [3].
  • Tránh dùng chung với thuốc: Không dùng nước kiềm để uống các loại thuốc điều trị bệnh, đặc biệt là thuốc kháng nấm hoặc các hoạt chất nhạy cảm với pH [8].
  • Kết hợp dinh dưỡng: Duy trì chế độ ăn thanh đạm, giàu chất xơ, hạn chế đồ dầu mỡ và giảm thiểu căng thẳng thần kinh.

Nước kiềm ion hóa không phải là phương thuốc trung hòa axit hay thần dược trị bách bệnh tiêu hóa. Mọi thay đổi bất thường kéo dài như đau thượng vị, ợ nóng dai dẳng cần được thăm khám chuyên khoa tiêu hóa để có chẩn đoán chính xác thay vì tự điều trị bằng nước kiềm.