Nhiều phụ nữ khi mang thai tin rằng chỉ cần duy trì thực đơn giàu thịt bò, rau xanh và các món bổ dưỡng là đủ nuôi dưỡng cơ thể cùng thai nhi. Tuy nhiên, tình trạng mệt mỏi, hụt hơi và chóng mặt do thiếu máu thiếu sắt vẫn xuất hiện phổ biến ở giai đoạn giữa và cuối thai kỳ. Thực tế, biến đổi sinh lý mạnh mẽ khiến chế độ ăn tự nhiên chạm ngưỡng giới hạn, không còn đáp ứng đủ nhu cầu tạo máu [1].

Chế độ ăn thông thường sẽ không còn đủ khi bước sang nửa sau thai kỳ hoặc khi mang đa thai, do lượng sắt cần hấp thu tăng vọt gấp nhiều lần [1, 2, 3]. Hầu hết phụ nữ bước vào thai kỳ với kho dự trữ sắt không đạt mức an toàn tối thiểu, trong khi khẩu phần ăn tự nhiên hằng ngày khó lòng bù đắp được khối lượng sắt thiếu hụt [1, 2].

Nhu cầu tạo máu tăng vọt trong thai kỳ diễn ra thế nào?

Cơ thể người mẹ khi có thai phải mở rộng thể tích tuần hoàn để nuôi bánh nhau và bào thai đang phát triển [1]. Nhu cầu hấp thu sắt thực tế tăng từ mức 0,8 mg/ngày trong giai đoạn đầu thai kỳ lên tới 7,5 mg/ngày ở giai đoạn thai muộn [1, 3]. Tính trung bình cả thai kỳ đơn, nhu cầu sắt hấp thu tăng thêm khoảng 4,4 mg mỗi ngày [2].

Khi thai phụ mang song thai, áp lực này còn tăng mạnh hơn. Thể tích máu ở mẹ mang song thai tăng thêm 10-20% so với đơn thai, số lượng hồng cầu tính đến tuần thứ 20 cũng tăng cao hơn từ 20-25% [2]. Hệ quả là nhu cầu sắt ở thai kỳ song thai cao gấp 1,8 lần so với đơn thai [2].

Dù cơ thể có cơ chế tự nhiên là tăng tỷ lệ hấp thu vi chất qua đường ruột trong thai kỳ, sự bù đắp này vẫn không đủ để ngăn ngừa tình trạng thiếu máu thiếu sắt ở 20% phụ nữ nếu không uống bổ sung [3]. Bào thai sẽ luôn lấy đi lượng sắt cần thiết từ cơ thể mẹ để phát triển, bất chấp việc dự trữ sắt trong máu của người mẹ còn nhiều hay đã cạn kiệt [1].

Giới hạn của khẩu phần ăn tự nhiên

Khảo sát dinh dưỡng cho thấy lượng sắt nạp vào từ thực phẩm của phụ nữ độ tuổi sinh sản đạt mức trung vị khoảng 9 mg/ngày [3]. Con số này thấp hơn đáng kể so với mức khuyến nghị thông thường là 12 đến 18 mg/ngày [3].

Khi mang thai, nhu cầu sắt hằng ngày tăng từ mức cơ bản 1 mg lên tối đa 20 đến 30 mg/ngày [4]. Dù việc hấp thu sắt từ thực phẩm nguồn gốc động vật dễ dàng hơn so với thực vật, khẩu phần ăn thông thường rất khó chạm tới ngưỡng này [4]. Nhu cầu sinh lý ở nửa sau thai kỳ đơn giản là không thể được đáp ứng trọn vẹn chỉ thông qua sắt trong thực phẩm [5].

Đặc biệt, sự thiếu hụt này bắt nguồn từ kho dự trữ trước thai kỳ. Một cân bằng sắt đầy đủ khi mang thai đòi hỏi cơ thể người mẹ phải có sẵn lượng sắt dự trữ từ 500 mg trở lên ngay tại thời điểm thụ thai [1, 2]. Trên thực tế, chỉ có khoảng 20% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đạt được mức dự trữ trên 500 mg này [3]. Khoảng 40% có lượng dự trữ từ 100 đến 500 mg, và có tới 40% phụ nữ bước vào thai kỳ với kho dự trữ sắt gần như bằng không [3].

Các nghiên cứu khoa học ghi nhận điều gì?

Các dữ liệu lâm sàng và dịch tễ học cung cấp cái nhìn chi tiết về tỷ lệ thiếu hụt cũng như hiệu quả của các biện pháp can thiệp:

Một tổng quan năm 1999 từ cơ sở dữ liệu Cochrane đánh giá các thử nghiệm có đối chứng giả dược về việc điều trị sắt trong thai kỳ [3]. Kết quả chỉ ra rằng phụ nữ dùng sắt có kho dự trữ tốt hơn, nồng độ hemoglobin cao hơn và tỷ lệ mắc thiếu máu thiếu sắt thấp hơn nhóm dùng giả dược trong cả thai kỳ lẫn sau sinh [3]. Con của những bà mẹ được bổ sung sắt cũng có nồng độ ferritin huyết thanh cao hơn con của các bà mẹ dùng giả dược [3]. Can thiệp bổ sung liều 65 mg sắt/ngày từ tuần thứ 20 giúp phòng ngừa hiệu quả tình trạng thiếu máu thiếu sắt [3].

Một nghiên cứu tổng quan công bố năm 2006 ghi nhận thiếu máu thiếu sắt trong thai kỳ là yếu tố nguy cơ dẫn đến sinh non và trẻ sinh ra nhẹ cân [5]. Nghiên cứu nhấn mạnh sắt thiết yếu cho sự phát triển não bộ thai nhi, thiếu sắt có thể gây ảnh hưởng xấu tới trí tuệ và hành vi [5]. Nghiên cứu chỉ ra hướng dẫn bổ sung cá thể hóa theo nồng độ ferritin huyết thanh: nếu ferritin trên 70 mcg/L thì không cần bổ sung; từ 30-70 mcg/L cần 40 mg sắt nguyên tố/ngày; và dưới 30 mcg/L cần dùng 80-100 mg sắt nguyên tố/ngày [5]. Dưới ngưỡng 100 mg/ngày, các nghiên cứu có đối chứng không ghi nhận tác dụng phụ đáng kể [5].

Một đánh giá năm 2022 về thai kỳ song thai ghi nhận tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai đôi xảy ra thường xuyên gấp 2,4 đến 4 lần so với mang thai đơn, ảnh hưởng tới 30-45% thai phụ trong ba tháng cuối [2]. Khuyến cáo từ Alberta Health Services (Canada) đề xuất thai phụ cần bổ sung tối thiểu 27 mg sắt, 1000 mcg acid folic, 2,6 mcg vitamin B12 và tối thiểu 400 IU vitamin D mỗi ngày qua chế phẩm bổ sung, đồng thời không dùng quá 1 loại viên đa vi chất [2].

Một nghiên cứu cắt ngang năm 2021 thực hiện trên 165 phụ nữ mang thai từ 19 đến 45 tuổi sử dụng phương pháp nhắc lại khẩu phần 24 giờ và bảng hỏi tần suất thực phẩm [6]. Kết quả ghi nhận tỷ lệ thiếu máu là 15,2% và tỷ lệ thiếu sắt lên tới 65,5% [6]. Phân tích bằng thuật toán học máy chỉ ra rằng tổng lượng sắt nạp vào cùng với phospho, vitamin B1 và B2 là các yếu tố quan trọng liên quan đến thiếu sắt, trong khi tuổi tác, số lần sinh, việc dùng acid folic và tổng lượng sắt nạp vào là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tình trạng thiếu máu [6].

Tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu mẹ bầu cần biết

Thiếu máu thai kỳ thường được xác định qua xét nghiệm máu với nồng độ hemoglobin (Hb) [3, 8]. Theo các hướng dẫn quốc tế như ACOG (Mỹ), ngưỡng chẩn đoán thiếu máu là Hb dưới 11,0 g/dL trong ba tháng đầu và ba tháng cuối thai kỳ, hoặc Hb từ 10,5 g/dL trở xuống trong ba tháng giữa [3, 8]. Một số chuyên gia và hướng dẫn tại Anh áp dụng ngưỡng 11,0 g/dL cho ba tháng đầu và 10,5 g/dL cho các giai đoạn tiếp theo [3, 8].

Thiếu máu thai kỳ làm tăng đáng kể nguy cơ bệnh tật và tử vong ở mẹ, gây thai chậm phát triển trong tử cung, tăng tỷ lệ sinh non cũng như biến chứng chu sinh [1]. Do đó, việc theo dõi chỉ số Hb và ferritin huyết thanh là bước quan trọng để phát hiện sớm cả tình trạng thiếu sắt tiềm ẩn lẫn thiếu máu rõ rệt [4, 8].

Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng bổ sung

Việc uống bổ sung sắt liều thấp (khoảng 30 mg sắt nguyên tố mỗi ngày) giúp cải thiện chỉ số sắt ở mẹ và bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi nguy cơ thiếu máu thiếu sắt, đồng thời cải thiện cân nặng khi sinh ngay cả ở những thai phụ không bị thiếu máu [7]. Chế phẩm sắt đường uống là giải pháp điều trị hàng đầu, hầu hết phụ nữ mang thai đều có thể đáp ứng hiệu quả [1].

Tuy nhiên, các bằng chứng cũng chỉ ra giới hạn. Bổ sung vi chất không thể triệt tiêu hoàn toàn 100% tình trạng thiếu máu thiếu sắt trong cộng đồng thai phụ [7]. Thêm vào đó, việc dùng liều quá cao là không cần thiết và tiềm ẩn rủi ro: sắt dư thừa có thể gây cản trở hấp thu các kim loại hóa trị hai khác, làm tăng căng thẳng oxy hóa trong cơ thể và gây tác dụng phụ khó chịu trên đường tiêu hóa [2, 6].

Những hiểu lầm thường gặp

Nhiều người cho rằng ăn thật nhiều thịt đỏ và rau củ sẫm màu sẽ giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu máu thai kỳ. Dù thực phẩm động vật cung cấp sắt dễ hấp thu hơn thực vật, lượng sắt cơ thể lấy được từ bữa ăn vẫn không đủ bù đắp nhu cầu tăng vọt từ tháng thứ 4 trở đi [2, 4].

Một hiểu lầm khác là thai phụ nào cũng cần uống sắt liều cao ngay từ khi bắt đầu mang thai. Khảo sát tại Áo cho thấy 46,5% thai phụ tự ý dùng sắt trước khi làm xét nghiệm thai bạ và 28,1% dùng trước cả khi xác nhận có thai [4]. Thực tế, các hiệp hội sản khoa tại Anh và Mỹ không khuyến cáo bổ sung sắt đại trà cho mọi đối tượng thai phụ không bị thiếu máu, mà ưu tiên tầm soát thiếu máu trước [4, 8]. Tại Thụy Sĩ hay theo khuyến nghị cá thể hóa, thai phụ nên xét nghiệm Hb và ferritin huyết thanh trước khi bắt đầu dùng viên sắt [2, 4].

Ai nên thận trọng?

Thai phụ có nồng độ ferritin huyết thanh trên 70 mcg/L không nên tự ý dùng viên bổ sung sắt vì kho dự trữ đã ở mức dồi dào [5]. Nạp sắt dư thừa làm tăng stress oxy hóa và tương tác bất lợi với các khoáng chất khác [2, 6].

Phụ nữ mang thai mắc các bệnh lý chuyển hóa sắt, bệnh lý đường tiêu hóa hoặc đang sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng. Tuyệt đối không tự ý dùng cùng lúc nhiều chế phẩm chứa vi chất vì liều vitamin và khoáng chất không nên vượt quá 200% giá trị tham chiếu hằng ngày [2].

Cách áp dụng thực tế và phối hợp vi chất

Để đảm bảo hiệu quả tạo máu và an toàn cho thai kỳ, mẹ bầu nên thực hiện theo các hướng dẫn cụ thể:

Thai phụ nên chủ động thực hiện xét nghiệm công thức máu và ferritin huyết thanh ở các mốc khám thai định kỳ để bác sĩ xác định chính xác liều lượng cần thiết [2, 4, 8]. Với thai kỳ đơn có chỉ định bổ sung liều thấp dự phòng, mức 30 mg sắt nguyên tố/ngày hoặc 65 mg/ngày từ tuần thứ 20 là liều lượng phổ biến [1, 6]. Trường hợp mang song thai, nhu cầu sắt tối thiểu từ chế phẩm bổ sung là 27 mg/ngày kèm theo 1000 mcg acid folic [2].

Về thời điểm, các nghiên cứu khuyến nghị nên uống viên sắt vào lúc trước khi đi ngủ hoặc giữa các bữa ăn để đảm bảo khả năng hấp thu tối ưu nhất [5]. Không tự ý tăng liều vượt quá 100 mg/ngày nếu không có chỉ định trực tiếp từ nhân viên y tế [5].

Bên cạnh viên uống, việc duy trì chế độ ăn đa dạng là điều kiện cần. Bữa ăn cần kết hợp đủ các chất dinh dưỡng liên quan mật thiết đến quá trình tạo máu như vitamin B1, B2, acid folic và phospho, tránh tình trạng thiếu hụt đa vi chất cùng lúc [6].

Chế độ ăn hằng ngày đóng vai trò nền tảng nhưng thường chạm ngưỡng giới hạn trước nhu cầu tạo máu rất lớn của thai kỳ, nhất là trong những tháng cuối và khi mang đa thai. Mẹ bầu không nên tự ý dùng thuốc liều cao nhưng cũng không nên phụ thuộc hoàn toàn vào ăn uống. Hãy thăm khám định kỳ, làm xét nghiệm máu và tuân thủ liều lượng bổ sung do bác sĩ chuyên khoa chỉ định để bảo vệ an toàn cho cả mẹ và con.