Nhiều người truyền tai nhau dùng quế như một giải pháp tự nhiên giúp kiểm soát đường huyết và cải thiện đái tháo đường. Trong các loài quế, Quế Rành (tên khoa học là Cinnamomum burmannii, hay quế Indonesia) được ứng dụng rộng rãi trong ẩm thực lẫn chiết xuất thực phẩm bổ sung. Tuy nhiên, liệu Quế Rành có thực sự hạ đường huyết tốt như lời đồn?
Các bằng chứng lâm sàng hiện nay cho thấy chiết xuất và trà Quế Rành có khả năng hỗ trợ giảm nhẹ đường huyết sau ăn ở người không mắc bệnh hoặc hỗ trợ đường huyết đói ở người tiểu đường tuýp 2 khi dùng phối hợp [1, 4]. Dù vậy, hiệu quả giữa các nghiên cứu còn trái ngược và loại thảo mộc này tuyệt đối không thể thay thế thuốc điều trị hay tiêm insulin [2, 4].
Cơ chế tác động đến glucose máu dưới góc nhìn sinh học
Quế Rành chứa hàm lượng phong phú các hợp chất polyphenol tự nhiên [1, 5]. Nghiên cứu hóa sinh chỉ ra rằng trà chế biến từ vỏ Quế Rành có hoạt tính chống oxy hóa cao [1]. Tình trạng tăng đường huyết sau ăn kéo dài thường kích thích cơ thể sản sinh các gốc oxy hóa tự do (ROS), dẫn đến mất cân bằng oxy hóa, viêm và rối loạn chức năng nội mô [1]. Việc bổ sung chất chống oxy hóa từ thảo mộc giúp hỗ trợ cân bằng chuyển hóa này [1].
Ở cấp độ tế bào, cơ chế tác động của chiết xuất Quế Rành đã được làm rõ một phần qua mô hình thực nghiệm. Một nghiên cứu năm 2010 tiến hành trên tế bào mỡ 3T3-L1 của chuột được xử lý với chiết xuất Quế Rành hòa tan trong nước (nồng độ 100 mcg/ml) [2]. Kết quả cho thấy chiết xuất này làm gia tăng biểu hiện mARN của chất vận chuyển glucose GLUT1 lên lần lượt 1,91 lần sau 2 giờ; 4,39 lần sau 4 giờ và đạt 6,98 lần sau 16 giờ so với đối chứng [2].
Đồng thời, chiết xuất Quế Rành cũng làm giảm sự biểu hiện của một số gene mã hóa cho các protein trong con đường tín hiệu insulin như GSK3B, IGF1R, IGF2R và PIK3R1 [2]. Sự điều hòa biểu hiện của nhiều nhóm gene này cho thấy Quế Rành có tiềm năng sinh học trong việc hỗ trợ vận chuyển đường vào tế bào, dù các kết quả tế bào chuột cần thêm nghiên cứu để kiểm chứng đầy đủ trên cơ thể người [2].
Bằng chứng lâm sàng từ các thử nghiệm trên người
Để đánh giá tác dụng thực tế của Quế Rành, các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trên người trưởng thành không mắc đái tháo đường [1]. Trong thử nghiệm này, các tình nguyện viên được thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống kết hợp có hoặc không có trà Quế Rành (C. burmannii) [1].
Kết quả thu được cho thấy việc uống trà Quế Rành làm giảm nhẹ mức đường huyết mao mạch sau ăn [1]. Đáng chú ý, nhóm sử dụng trà quế có nồng độ đường huyết tối đa sau ăn và mức dao động đường huyết cực đại thấp hơn đáng kể với ý nghĩa thống kê (p < 0,05) [1]. Thử nghiệm chứng minh trà Quế Rành có ích trong việc hỗ trợ kiểm soát đường huyết sau ăn ở người khỏe mạnh [1].
Bên cạnh đó, các dạng chiết xuất quế nói chung cũng được thử nghiệm rộng rãi trên bệnh nhân tiểu đường. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 137 bệnh nhân tiểu đường sử dụng 500 mg/ngày chế phẩm chiết xuất nước phun sấy từ quế trong 2 tháng cho thấy kết quả khả quan [3]. Đường huyết lúc đói ở nhóm dùng quế giảm từ 8,85 mmol/L xuống 8,19 mmol/L (p < 0,005), trong khi nhóm giả dược không đổi đáng kể [3]. Đường huyết 2 giờ sau nạp 75 g glucose cũng hạ từ 15,09 mmol/L xuống 13,3 mmol/L (p < 0,001) cùng với sự cải thiện độ nhạy insulin HOMA-IR và nồng độ fructosamine [3].
Một phân tích tổng hợp công bố năm 2011 gộp 8 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên người đái tháo đường tuýp 2 và tiền đái tháo đường cũng ghi nhận quế nguyên vỏ hoặc chiết xuất quế giúp giảm đường huyết lúc đói trung bình -0,49 mmol/L (p = 0,025) [4]. Riêng nhóm dùng chiết xuất quế đơn độc ghi nhận mức giảm -0,48 mmol/L (p = 0,008) [4].
Bức tranh trái chiều: Khi quế không mang lại tác dụng
Mặc dù có nhiều kết quả tích cực, các tổng quan hệ thống nhấn mạnh rằng dữ liệu khoa học về quế vẫn tồn tại nhiều mâu thuẫn lớn [2, 4]. Một tổng quan hệ thống các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giai đoạn 2003-2008 ghi nhận: trong 5 nghiên cứu trên bệnh nhân tiểu đường tuýp 2, chỉ có 2 nghiên cứu ghi nhận mức giảm đường huyết lúc đói đáng kể (từ 10,3% đến 18-29%), trong khi 3 nghiên cứu còn lại hoàn toàn không ghi nhận kết quả khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giả dược [5].
Một báo cáo tổng quan năm 2022 phân tích 14 thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 [6]. Trong đó, 8 nghiên cứu cho thấy quế cải thiện đường huyết đói hoặc đường huyết sau ăn, nhưng có tới 6 nghiên cứu cho thấy quế không đem lại lợi ích nào đối với các chỉ số này [6]. Nghiên cứu của Vanschoonbeek thực hiện trên 25 phụ nữ mãn kinh mắc tiểu đường tuýp 2 dùng 1,5 g quế mỗi ngày trong 6 tuần không ghi nhận cải thiện về đường huyết hay lipid máu [4, 7]. Tương tự, nghiên cứu của Blevins trên 60 bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 dùng 1 g quế cassia mỗi ngày suốt 3 tháng cũng cho kết quả không cải thiện [4, 7].
Ngay cả trong các nghiên cứu ghi nhận mức giảm đường huyết đói 18-29% khi uống 1, 2 hoặc 6 g quế dạng viên nang sau bữa ăn trong 40 ngày, các tác giả cũng lưu ý rằng các bệnh nhân này đang sử dụng đồng thời thuốc điều trị nhóm sulfonylurea [6]. Do đó, sự cải thiện đường huyết có sự góp phần lớn từ thuốc điều trị nền [6].
Hiểu lầm thường gặp: Quế có thay thế được insulin?
Hiểu lầm nguy hiểm nhất hiện nay là xem Quế Rành hoặc các loại quế nói chung như một liệu pháp tự nhiên có thể thay thế thuốc hạ đường huyết hoặc insulin. Cần khẳng định rõ: không có bằng chứng khoa học nào cho phép dùng quế thay thế thuốc kê đơn hoặc insulin [2, 4]. Các nghiên cứu chỉ đánh giá quế như một biện pháp hỗ trợ phối hợp hoặc thử nghiệm ngắn hạn [4, 7].
Tự ý ngưng thuốc chỉ định hay ngưng insulin để chuyển sang dùng nước quế hay viên quế sẽ khiến lượng đường trong máu tăng vọt mất kiểm soát. Điều này dẫn tới nguy cơ biến chứng cấp tính nguy hiểm tính mạng và tổn thương nghiêm trọng mạch máu, thận, mắt về lâu dài. Quế chỉ thể hiện đặc tính chống tăng đường huyết ở mức hỗ trợ nhẹ [5].
Một hiểu lầm khác là cho rằng cứ dùng liều càng cao thì đường huyết hạ càng nhanh. Trên thực tế, thử nghiệm lâm sàng dùng 6 g quế dạng viên nang mỗi ngày kéo dài suốt 12 tuần vẫn không làm thay đổi đường huyết đói một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng [6].
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Trong chi quế, Quế Rành (C. burmannii) và Quế đơn (C. cassia) đều thuộc nhóm quế có chứa coumarin, một hợp chất có khả năng gây độc cho gan nếu hấp thu quá mức [7]. Người có tiền sử bệnh gan, suy giảm chức năng gan cần hết sức cẩn trọng và không tự ý sử dụng các chế phẩm bột quế cô đặc hoặc dùng quế dài ngày.
Bệnh nhân đái tháo đường đang sử dụng các thuốc hạ đường huyết (như sulfonylurea, insulin) cần theo dõi sát sao nếu dùng thêm quế [6]. Do quế có thể hiệp đồng làm giảm nhẹ đường huyết, việc phối hợp không kiểm soát có thể làm tăng nguy cơ hạ đường huyết quá mức.
Những người có cơ địa dị ứng thảo mộc, phụ nữ mang thai hoặc người mắc các bệnh mạn tính phức tạp nên tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị trước khi dùng quế dưới dạng thực phẩm bổ sung liều cao thường xuyên.
Cách áp dụng thực tế và lời khuyên an toàn
Nếu muốn đưa Quế Rành vào chế độ ăn uống thường nhật để hỗ trợ kiểm soát đường huyết, người dùng nên xem đây là một loại gia vị và thức uống bổ trợ thay vì một vị thuốc thần kỳ.
- Dạng dùng: Có thể pha một lượng quế vừa phải dạng trà túi lọc hoặc nấu nước vỏ quế uống sau bữa ăn để hỗ trợ giảm bớt mức đỉnh đường huyết [1].
- Liều lượng: Các nghiên cứu ghi nhận khoảng liều thử nghiệm thường dao động từ 1 g đến 6 g quế bột hoặc 250 mg đến 500 mg chiết xuất quế cô đặc mỗi ngày [4, 7]. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn và tránh tích lũy độc chất, người dùng chỉ nên dùng lượng gia vị nhỏ vừa phải trong ăn uống hằng ngày.
- Phối hợp lối sống: Bổ sung quế chỉ phát huy giá trị khi kết hợp với chế độ ăn cân đối, kiểm soát lượng carbohydrate nạp vào, tập thể dục đều đặn và tuân thủ hoàn toàn phác đồ của bác sĩ.
Tóm lại, Quế Rành có tiềm năng sinh học giúp giảm nhẹ đường huyết sau ăn và hỗ trợ chuyển hóa glucose ở mức độ nhất định [1, 3]. Dù vậy, bằng chứng lâm sàng vẫn còn nhiều điểm chưa đồng nhất giữa các thử nghiệm [2, 4]. Người bệnh cần duy trì lối sống lành mạnh, dùng quế như một gia vị bổ trợ an toàn và tuyệt đối tuân thủ chỉ định điều trị y khoa.











