Nhiều người đi hái thuốc nam thường truyền tai nhau về các loại cây bụi có gai họ Cam chanh để trị ho, đau nhức xương khớp hay giải độc gan. Tuy nhiên, việc gọi tên dân dã như "quýt gai", "tầm xoong" hay nhầm lẫn sang các loài có gai khác cùng họ Rutaceae đang gây ra không ít rủi ro cho người dùng.
Thực tế, các loài cây thuộc họ Rutaceae có gai ở nước ta có sự tương đồng rất lớn về hình thái bên ngoài. Sự lẫn lộn giữa cây quýt gai (Severinia buxifolia hay còn gọi Atalantia buxifolia) với các loài dây leo, cây bụi khác như xáo tam phân (Paramignya trimera) khiến việc sử dụng làm thuốc thiếu chuẩn xác, tiềm ẩn nguy cơ tác động xấu đến sức khỏe nếu thu hái sai loài hoặc dùng sai bộ phận.
Bối cảnh và sự nhầm lẫn giữa các loài Rutaceae có gai
Cây quýt gai, còn có tên khoa học là Severinia buxifolia (Poir.) Ten. hoặc danh pháp đồng nghĩa Atalantia buxifolia (Poir.) Oliv., là loài thực vật thân gỗ bụi thường gặp [1]. Cây thường phân bố ở các vùng đồi núi, bờ rào hoặc được trồng làm cảnh, làm dược liệu dân gian [1].
Trong dân gian, các tên gọi như quýt gai, tầm xoong hay xáo tam phân thường bị đánh đồng do chúng đều mang gai nhọn và có mùi thơm tinh dầu đặc trưng của họ Rutaceae [2]. Chi Paramignya có khoảng 30 loài phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, trong đó tại Việt Nam tập trung nhiều ở Khánh Hòa và Lâm Đồng [2]. Sự biến đổi hình thái rõ rệt của các loài này khiến việc định danh bằng mắt thường trở nên vô cùng khó khăn, dẫn đến việc người dân nhầm lẫn tai hại khi khai thác làm thuốc [2].
Nghiêm trọng hơn, nhiều mẫu cây ngoài tự nhiên có đặc điểm pha trộn hình thái giữa Paramignya trimera và Atalantia buxifolia, bị nghi ngờ là các cá thể lai tự nhiên giữa hai loài khác chi này [2]. Điều này lý giải vì sao người đi rừng chỉ dựa vào gai, lá hay thân cành rất dễ nhầm lẫn dược liệu.
Nghiên cứu di truyền học và cách phân biệt thực vật học
Năm 2020, một nghiên cứu di truyền học kết hợp phân tích hình thái thực vật thu thập tại Khánh Hòa và Lâm Đồng đã làm rõ mối quan hệ này [2]. Các nhà khoa học phát hiện loài Paramignya trimera có họ hàng di truyền rất gần gũi với quýt gai Atalantia buxifolia, cùng với Severinia monophylla và Luvunga scandens [2].
Phân tích biến dị di truyền và khoảng cách giữa các loài bằng các trình đoạn gen ITS, rbcL và matK cho thấy trình đoạn gen matK là mã vạch DNA hiệu quả nhất để phân biệt loài trong chi Paramignya với các loài khác cùng họ Rutaceae [2]. Nghiên cứu chỉ rõ việc phụ thuộc thuần túy vào hình thái học rất dễ dẫn đến sai lệch do mức độ biến đổi hình thái nội loài quá lớn [2].
Về mặt thực vật học, chi Paramignya thuộc phân tông Triphasiinae, tông Citreae, phân họ Aurantioideae, họ Rutaceae, gồm các loài cây bụi gỗ phân bố rộng ở Nam Bộ, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Australia [2]. Trong khi đó, quýt gai Atalantia buxifolia hay Severinia buxifolia mang đặc tính cây bụi thấp, cành có gai cứng ở nách lá [1]. Nếu không có chuyên môn thực vật học hoặc kiểm định gen, việc nhận dạng nhầm quýt gai với các loài gai khác trong rừng là hoàn toàn có thể xảy ra.
Cơ chế tác động và thành phần hóa học của cây quýt gai
Theo các nghiên cứu phân tích hóa thực vật, cây quýt gai (Atalantia buxifolia / Severinia buxifolia) sở hữu kho hoạt chất thứ cấp đa dạng bao gồm alkaloid acridone, coumarin, phenolic và terpenoid [3, 4, 6, 7].
Năm 2013, các nhà khoa học đã chiết xuất từ phần trên mặt đất của Atalantia buxifolia bằng cồn ethanol và phân lập được một alkaloid acridone mới tên là buxifoliadine, bên cạnh các hợp chất đã biết như citrusinine-I, N-methylatalaphylline, severinolid và cycloseverinolide [3]. Năm 2010, một nghiên cứu khác phân tích các bộ phận của Severinia buxifolia bằng quang phổ NMR 1D và 2D cũng xác định thêm limonoid mới, alkaloid acridone mới và một flavone mới [4].
Năm 2012, nghiên cứu trên phần rễ của Atalantia buxifolia thu hái tại Hải Nam đã phân lập một tetranortriterpenoid mới đặt tên là 6-deacetyl-severinolide cùng 6 tetranortriterpenoid khác bao gồm severinolide, acetyl-isoepiatalantin, 7-isovaleroylcycloepiatalantin, cycloepiatalantin, 7-isovaleroylcycloseverinolide và atalantin qua các phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân [5].
Năm 2018, các nhà nghiên cứu tiếp tục phân lập từ cành Atalantia buxifolia 5 hợp chất mới gồm buxifoxime A-C, buxifobenzoate, 7-O-(7'-peroxygeranyl) coumarin cùng 25 hợp chất đã biết khác [6]. Hợp chất buxifoxime A mang nhóm chức aldoxime thể hiện tác dụng kháng viêm rõ rệt thông qua ức chế tạo anion superoxide với giá trị IC50 là 4,8 +- 0,7 muM [6]. Đáng chú ý, alkaloid 5-hydroxy-N-methylseverifoline thể hiện hoạt tính kháng virus sốt xuất huyết (dengue) với IC50 đạt 5,3 +- 0,4 muM [6].
Hoạt tính chống viêm và độc tính tế bào cần lưu ý
Nhiều người cho rằng cây cỏ thiên nhiên không có độc tính, dùng thế nào cũng an toàn. Tuy nhiên, các dẫn xuất alkaloid và tinh dầu trong họ Rutaceae có thể gây độc cho tế bào sống nếu dùng không kiểm soát.
Nghiên cứu năm 2018 đã chứng minh hợp chất alkaloid atalaphyllinine chiết từ cành Atalantia buxifolia có độc tính tế bào (gây chết tế bào) trực tiếp đối với dòng tế bào ung thư gan ở người (HepG2) với chỉ số IC50 = 6,5 +- 0,0 muM [6]. Tính gây độc tế bào này cho thấy hoạt chất có tác dụng sinh học rất mạnh, không thể tùy tiện uống liều cao kéo dài như nước vối hay trà xanh.
Về khả năng kháng viêm của vỏ cây quýt gai, một nghiên cứu năm 2021 đã đánh giá các phân đoạn chiết xuất vỏ cây Severinia buxifolia [7]. Kết quả chỉ ra rằng hàm lượng tổng terpenoid (TTC) tăng đáng kể khi sử dụng dung môi phân đoạn: phân đoạn hexane: ethyl acetate (HEF) đạt TTC cao nhất (731,48 microg/ml), so với phân đoạn ether dầu hỏa (PEF) đạt 564,81 microg/ml và dịch chiết thô (CE) đạt 184,26 microg/ml [7]. Một dạng terpenoid cụ thể là axit ursolic được phát hiện với nồng độ tương ứng qua HPLC là 5,04 mug/g ở phân đoạn HEF, 3,56 mug/g ở PEF và 2,44 mug/g DW ở dịch chiết thô [7].
Phân đoạn HEF thể hiện hoạt tính chống viêm trong ống nghiệm (in vitro) tương đương hai chất đối chứng là aspirin và indomethacin, thông qua các chỉ số ức chế biến tính albumin (IC50 = 147,91 mug/mL), ức chế tan máu do nhiệt (IC50 = 159,91 mug/mL), ức chế proteinase (IC50 = 117,72 mug/mL) và ức chế lipoxygenase (IC50 = 90,45 mug/mL) [7]. Nghiên cứu cũng xác định chiết xuất ngâm dầm vỏ cây bằng hỗn hợp hexane: acetone ở 46 độ C trong 24 giờ cho hiệu suất chiết xuất tối ưu từ 2,40% đến 5,120% và hàm lượng TTC dao động từ 453,70 đến 842,59 mg linalool/g trọng lượng khô [7].
Năm 2024, một nghiên cứu khác so sánh tinh dầu lá của 3 loài họ Cam chanh ở Việt Nam (Acronychia pedunculata, Euodia lepta và Severinia monophylla) đã định danh 38 hợp chất qua GC-MS, chiếm 96,5 - 99,8% thành phần [8]. Kết quả cho thấy tinh dầu lá Severinia monophylla có tác dụng ức chế tế bào ung thư thấp hơn (IC50 > 100 microg/mL) so với hai loài còn lại (IC50 từ 59,04 đến 97,52 microg/mL) [8]. Tinh dầu loài này cũng chỉ đạt mức kháng viêm vừa phải trên đại thực bào bị kích thích bởi LPS với IC50 > 50 microg/mL, trong khi loài Euodia lepta đạt IC50 rất cao là 6,47 +- 0,65 microg/mL [8].
Nguy cơ lây truyền mầm bệnh và sâu bệnh trên cây quýt gai
Một nguy cơ thực vật học cực kỳ quan trọng ít người biết đến là quýt gai có thể mang mầm bệnh nông nghiệp nguy hiểm. Năm 2008, một báo cáo khoa học tại Quảng Đông, Trung Quốc xác nhận Atalantia buxifolia là ký chủ tự nhiên của vi khuẩn 'Candidatus Liberibacter asiaticus' - tác nhân gây ra bệnh vàng lá gân xanh (Huanglongbing - HLB) tàn phá các vườn cây có múi [1].
Các mẫu cây quýt gai tự nhiên mọc sát vườn thí nghiệm cây có múi tại Đại học Nông nghiệp Nam Trung Quốc cho thấy triệu chứng đốm vàng lá [1]. Khi ghép chồi của 3 cây bệnh lên giống quýt Citrus reticulata cv. Pongan trong nhà lưới ngăn rầy, sau hơn một năm, cây quýt ghép đều biểu hiện triệu chứng đốm vàng lá điển hình so với cây đối chứng khỏe mạnh [1].
Các kỹ thuật sinh học phân tử như tách chiết DNA bằng phương pháp CTAB, khuếch đại gen nested-PCR bằng mồi fDl/rD1 và OI1/OI2c đã phát hiện vạch DNA khoảng 1,1-kb đặc trưng; sau đó cắt enzyme XbaI cho hai đoạn 500-bp và 600-bp khẳng định sự hiện diện của 'Ca. L. asiaticus' [1]. Xét nghiệm PCR tiêu chuẩn với cặp mồi A5/J2 cũng cho vạch DNA 700-bp đặc hiệu ở mẫu lá bệnh [1]. Mặc dù cây quýt gai mang vi khuẩn nhưng sự phát triển của cây không bị ảnh hưởng đáng kể [1]. Điều này biến cây quýt gai tự nhiên thành nguồn lưu trữ mầm bệnh lây truyền sang các vùng trồng trọt ăn quả lân cận [1].
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng dược liệu có gai
Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng mọi cây có gai họ Cam chanh đều có công dụng chữa ung thư hay bệnh gan giống xáo tam phân. Trên thực tế, người dân tự ý đào bới rễ cây quýt gai, tầm xoong đem sắc uống có thể uống nhầm phải các loài lai hoặc loài có hoạt tính sinh học không tương đương [2].
Thứ hai, việc tự ý sao vàng hạ thổ, sắc uống đậm đặc phần cành lá có thể nạp vào cơ thể lượng lớn alkaloid acridone có tính độc tế bào [6]. Việc chưa qua chiết xuất tinh khiết hay định chuẩn liều lượng rất dễ dẫn đến ngộ độc gan, suy giảm chức năng thận hoặc dị ứng đường ruột.
Thứ ba, người dân thường tự ý thu hái cây mọc hoang dại gần các khu vực chuyên canh nông nghiệp. Những cây này vừa có nguy cơ nhiễm tồn dư thuốc trừ sâu, vừa có thể là nguồn mang vi khuẩn 'Candidatus Liberibacter asiaticus' truyền bệnh cho cây trồng trong vườn nhà [1].
Ai nên thận trọng khi tiếp xúc hoặc sử dụng?
- Người bệnh suy gan, suy thận: Do cành và thân rễ cây chứa các hợp chất alkaloid có độc tính tế bào trực tiếp (như atalaphyllinine gây độc tế bào gan) [6], bệnh nhân suy giảm chức năng nội tạng tuyệt đối không tự ý dùng bài thuốc truyền miệng.
- Phụ nữ mang thai và cho con bú: Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào xác nhận tính an toàn của các hợp chất tetranortriterpenoid hay alkaloid acridone trong quýt gai đối với thai nhi [3, 6].
- Người đang dùng thuốc chống viêm hạ sốt (như aspirin, thuốc ức chế lipoxygenase): Các thành phần terpenoid trong vỏ cây có hoạt tính ức chế tương tự có thể gây tương tác thuốc hoặc tăng nguy cơ tác dụng phụ trên đường tiêu hóa [7].
- Nhà vườn trồng cây có múi: Không nên di thực cây quýt gai hoang dại về trồng xen trong vườn cam quýt vì cây có thể mang nguồn bệnh vàng lá gân xanh (HLB) không biểu hiện triệu chứng nặng [1].
Hướng dẫn áp dụng thực tế và lời khuyên an toàn
Để việc ứng dụng cây quýt gai và các dược liệu họ Rutaceae đem lại hiệu quả, cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Xác định đúng chủng loại: Không tự ý dùng dao chặt cành, đào rễ cây rừng chỉ qua lời mô tả chung chung về gai nhọn và mùi thơm [2]. Nếu cần sử dụng thuốc đông y, chỉ mua dược liệu tại các cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền được cấp phép, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
- Không tự phối hợp tùy tiện: Các nghiên cứu hóa thực vật cho thấy rễ, cành và vỏ cây có thành phần các chất biến đổi rất lớn (từ tetranortriterpenoid, terpenoid cho đến acridone alkaloid) [3, 6, 7]. Việc dùng sai bộ phận hoặc đun sắc không đúng phương pháp sẽ làm biến tính hoặc thất thoát hoạt chất mong muốn.
- Không bỏ qua phác đồ điều trị chính thống: Các hoạt tính kháng viêm hay ức chế tế bào ung thư ghi nhận được hiện nay chủ yếu tiến hành trên mô hình trong ống nghiệm (in vitro) [4, 5, 7]. Người bệnh không được bỏ dở liệu trình điều trị tây y để chuyển sang uống nước sắc quýt gai.
Cây quýt gai (Severinia buxifolia / Atalantia buxifolia) là một dược liệu giàu tiềm năng với nhiều hoạt chất kháng viêm, chống oxy hóa và độc tế bào đáng chú ý trong các thử nghiệm phòng thí nghiệm [4, 7]. Tuy nhiên, do ranh giới nhận diện giữa quýt gai và các loài Rutaceae có gai khác rất mỏng manh và dễ nhầm lẫn [2], người dân cần tuyệt đối tỉnh táo, không tự ý thu hái hay lạm dụng dược liệu khi chưa có chỉ định chuyên môn từ bác sĩ y học cổ truyền.






