Nhiều người hút thuốc lá lâu năm thường băn khoăn liệu việc từ bỏ thuốc lá khi đã luống tuổi có thực sự giúp hệ mạch máu phục hồi hay không. Không ít người lo ngại những tổn hại tích tụ hàng chục năm qua đã trở thành vĩnh viễn, khiến nỗ lực cai thuốc trở nên vô nghĩa. Thực tế, câu hỏi cai thuốc sau bao lâu thì nguy cơ đột quỵ mới giảm xuống mức tương đương người chưa từng hút thuốc luôn là trăn trở lớn của nhiều bạn đọc.

Dữ liệu y khoa khẳng định rằng nguy cơ đột quỵ bắt đầu giảm rõ rệt chỉ sau 2 đến 4 năm ngừng hút thuốc lá [1], [2]. Tuy nhiên, để mức nguy cơ thuyên giảm hoàn toàn và tiệm cận mức của người không hút thuốc, thời gian cần thiết có thể dao động từ 5 năm [2] cho tới mốc 20 năm tùy thuộc vào thâm niên và mức độ hút thuốc trước đó [3].

Diễn tiến nguy cơ mạch máu sau khi dừng thuốc lá

Khói thuốc lá tác động tiêu cực trực tiếp đến hệ thống tuần hoàn, làm gia tăng nguy cơ hình thành các cục máu đông và thúc đẩy quá trình xơ vữa thành mạch. Khi người bệnh ngừng tiếp xúc với khói thuốc, cơ thể lập tức kích hoạt các cơ chế tự cân bằng và giảm dần phản ứng viêm nội mạc. Sự tích tụ mảng xơ vữa mới chậm lại, đồng thời khả năng đông máu bất thường cũng giảm dần theo thời gian.

Các dữ liệu tổng hợp cho thấy quá trình phục hồi của hệ tim mạch diễn ra theo từng giai đoạn rõ rệt [4], [2]. Giai đoạn sớm từ 2 đến 3 năm ghi nhận sự sụt giảm nhanh chóng của các biến cố tắc mạch cấp tính [4]. Sau mốc thời gian này, đường cong rủi ro tiếp tục đi xuống và duy trì xu hướng giảm ổn định trong các năm tiếp theo nếu người bệnh duy trì được lối sống không khói thuốc [4].

Các mốc thời gian phục hồi theo nghiên cứu khoa học

Bằng chứng theo dõi dài hạn trên quy mô lớn đã cung cấp những mốc thời gian rất cụ thể về biểu đồ suy giảm nguy cơ đột quỵ ở người từng hút thuốc:

Nghiên cứu theo dõi tiến cứu suốt 12 năm (1976-1988) trên 117.006 nữ điều dưỡng từ 30 đến 55 tuổi cho thấy người đang hút thuốc có nguy cơ đột quỵ tổng thể cao gấp 2,58 lần so với người chưa từng hút [1]. Ở nhóm đã cai thuốc, tỷ lệ nguy cơ này giảm xuống còn 1,34 lần [1]. Đáng chú ý, nguy cơ đột quỵ dư thừa ở nhóm cựu hút thuốc phần lớn biến mất chỉ sau 2 đến 4 năm bỏ thuốc, bất kể số lượng điếu hút mỗi ngày hay độ tuổi bắt đầu hút [1].

Một nghiên cứu dịch tễ lớn trên người trung niên và cao tuổi tại Trung Quốc chỉ ra mối liên hệ tuyến tính giữa số lượng thuốc hút, số gói-năm với tỷ lệ mắc đột quỵ [3]. Nguy cơ thuyên giảm dần theo thời gian cai thuốc: tỷ suất chênh (OR) là 3,47 ở nhóm cai 1-4 năm; 3,37 ở nhóm cai 5-19 năm; và giảm sâu xuống 0,95 ở nhóm đã bỏ thuốc từ 20 năm trở lên so với người không hút thuốc [3]. Như vậy, việc ngừng thuốc từ 20 năm trở lên đã loại bỏ hoàn toàn nguy cơ đột quỵ dư thừa liên quan đến khói thuốc ở quần thể này [3].

Nghiên cứu trên 109.498 phụ nữ sau mãn kinh thuộc chương trình Sức khỏe Phụ nữ (WHI) theo dõi trung bình 14,01 năm đã phân tích tác động của việc cai thuốc gần đây (trong vòng 3 năm đầu) [5]. Kết quả cho thấy nhóm mới cai thuốc có nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ thấp hơn đáng kể so với nhóm tiếp tục hút, với tỷ số nguy cơ HR là 0,66 [5]. Trong khi đó, nguy cơ đối với đột quỵ xuất huyết não chưa ghi nhận sự suy giảm có ý nghĩa thống kê ở mốc thời gian này với HR là 0,76 [5].

Nguy cơ tái phát ở người đã từng bị đột quỵ

Đối với bệnh nhân từng trải qua biến cố mạch máu não, việc tiếp tục hút thuốc khiến nguy cơ tái phát tăng lên gấp bội [2]. Bệnh nhân duy trì thói quen hút thuốc sau cơn đột quỵ ban đầu có nguy cơ tái phát tăng gần gấp đôi so với người không hút thuốc [2]. Mức độ hút càng nhiều thì tỷ lệ tái phát càng cao: người hút 1-20 điếu/ngày có tỷ số nguy cơ HR là 1,68; người hút 20-40 điếu/ngày có HR là 2,21; và trên 40 điếu/ngày có HR lên tới 2,72 [2].

Dữ liệu tổng hợp từ các nghiên cứu trước đó được trích dẫn lại cũng ghi nhận nguy cơ đột quỵ giảm sau 2 đến 4 năm bỏ thuốc và trở về mức như người không hút sau 5 năm cai [2]. Ngoài ra, phân tích gộp trên 25 nghiên cứu năm 2021 xác nhận bệnh nhân ngừng hút thuốc sau cơn đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) giảm đáng kể nguy cơ đột quỵ tái phát, tử vong chung và biến cố tim mạch gộp [6].

Hiểu lầm: Tăng cân sau cai thuốc làm mất đi lợi ích mạch máu?

Một trong những rào cản tâm lý phổ biến khiến nhiều người ngần ngại bỏ thuốc là tình trạng tăng cân sau cai. Không ít ý kiến lo ngại rằng việc tăng cân sẽ làm tăng mỡ máu, huyết áp và vô tình triệt tiêu lợi ích bảo vệ tim mạch mà việc bỏ thuốc mang lại.

Tuy nhiên, nghiên cứu trên 109.498 phụ nữ sau mãn kinh đã đánh giá cụ thể mối liên quan này [5]. Kết quả chứng minh lợi ích của việc cai thuốc lá trong việc giảm thiểu nguy cơ đột quỵ không hề bị suy giảm hay làm lu mờ bởi tình trạng tăng cân đi kèm [5]. Sự cải thiện chức năng mạch máu và giảm gánh nặng xơ vữa do loại bỏ độc chất thuốc lá vượt trội hơn nhiều so với các tác động bất lợi ngắn hạn từ việc tăng chỉ số khối cơ thể [5].

Bên cạnh đó, nghiên cứu tại Trung Quốc cũng ghi nhận ở nhóm đang hút thuốc, những người có thể trạng bình thường lại có tỷ lệ đột quỵ cao hơn so với người thừa cân hoặc béo phì [3]. Điều này cho thấy tác hại nội tại của khói thuốc lên thành mạch là yếu tố nguy hiểm độc lập rất lớn.

Thực trạng cai thuốc và rào cản tâm lý của người bệnh

Mặc dù lợi ích của việc từ bỏ thuốc lá là rõ ràng, tỷ lệ duy trì lối sống không khói thuốc sau biến cố sức khỏe vẫn còn đối mặt nhiều thách thức:

Dữ liệu từ Sổ bộ Đột quỵ Nam London ghi nhận 71% bệnh nhân từng hút thuốc có cố gắng cai trong vòng 3 năm sau cơn đột quỵ, nhưng chỉ có 30% cai và duy trì thành công liên tục ở mốc 1 và 3 năm [7]. Có tới 10% bệnh nhân bỏ thuốc ngay sau đột quỵ nhưng sau đó tái nghiện trở lại [7]. Tỷ lệ bỏ thuốc ở mốc 3 tháng là 25% [7].

Tại Melbourne (Úc), khảo sát trên các bệnh nhân sống sót sau 5 năm ghi nhận trong số người hút thuốc tại thời điểm phát bệnh, chỉ có 37% thực sự bỏ thuốc sau 5 năm [8]. Đáng chú ý, có tới 40% người từng hút thuốc không nhớ bản thân đã nhận được bất kỳ lời khuyên cai thuốc nào từ nhân viên y tế [8].

Khảo sát trên 215 bệnh nhân đột quỵ tại Trung Quốc cho thấy 59,1% bệnh nhân có thái độ tiêu cực và chỉ 24,7% có mức độ nhận thức cao về tác hại của thuốc lá [4]. Sự thiếu hiểu biết về căn bệnh khiến nhiều người chủ quan, cho rằng việc hút thuốc không tác động lớn đến tình trạng bệnh tật của chính mình [4].

Phân tích gộp năm 2021 trên 25 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cai thuốc gộp ở bệnh nhân sau đột quỵ hoặc TIA lần lượt là 51% ở mốc 3 tháng, 44,4% ở mốc 6 tháng, 43,7% ở mốc 12 tháng và đạt 49,8% từ mốc 24 tháng trở lên [6].

Nhóm đối tượng cần thận trọng và hỗ trợ đặc biệt

Các nghiên cứu chỉ ra những nhóm người có tỷ lệ duy trì cai thuốc thấp hoặc đối mặt với nhiều khó khăn tâm lý, đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ:

Người tiêu thụ rượu bia và người mắc chứng trầm cảm là những đối tượng có tỷ lệ cai thuốc thành công thấp hơn đáng kể sau biến cố tim mạch [6]. Ngược lại, người có mức độ khuyết tật nặng hơn thường có xu hướng nỗ lực bỏ thuốc cao hơn [7], [6].

Về yếu tố tuổi tác và chủng tộc, phân tích hồi quy tại Anh cho thấy người lớn tuổi có khả năng duy trì việc cai thuốc thành công cao gấp 4,5 lần so với người trẻ tuổi khi đã có ý định cai [7]. Người da đen có tỷ lệ nỗ lực cai thuốc cao hơn (OR = 6,20) nhưng khả năng tiếp tục hút thuốc ở mốc 3 năm lại giảm so với các nhóm khác (OR = 0,30) [7].

Nam giới cần đặc biệt lưu tâm vì nghiên cứu dịch tễ ghi nhận mối liên quan giữa việc hút thuốc hiện tại và nguy cơ đột quỵ thể hiện rõ rệt ở nam giới hơn nữ giới [3]. Mức tăng nguy cơ cũng biểu hiện mạnh hơn ở nhóm người từ 60 tuổi trở lên [3].

Áp dụng thực tế để bảo vệ hệ mạch máu

Để tối ưu hóa quá trình hồi phục mạch máu và phòng ngừa đột quỵ tái phát hoặc khởi phát, người dân cần thiết lập lộ trình cai thuốc bài bản:

Tận dụng môi trường không khói thuốc tại các cơ sở y tế trong quá trình điều trị để cắt cơn thèm thuốc ban đầu và tạo lập thói quen sinh hoạt mới [4]. Việc tham gia các chương trình hỗ trợ cai thuốc chuyên sâu đã được chứng minh giúp gia tăng đáng kể tỷ lệ bỏ thuốc thành công so với việc tự cai đơn độc [6].

Cần có sự đồng hành sát sao từ gia đình, đặc biệt là sự hỗ trợ từ vợ hoặc chồng trong việc nâng cao nhận thức về tác hại khói thuốc, giám sát và động viên tâm lý [4]. Đối với bệnh nhân đã từng bị đột quỵ, nhân viên y tế cần giải thích rõ ràng mối nguy cơ theo trình độ hiểu biết của người bệnh để nâng cao động lực duy trì bỏ thuốc lâu dài [4].

Người cai thuốc cần theo dõi huyết áp định kỳ, duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng và tập luyện thể chất thường xuyên. Tình trạng tăng cân nhẹ sau cai không phải là lý do để nản lòng hay quay lại với điếu thuốc, bởi lợi ích phòng ngừa tai biến mạch máu não của việc dứt bỏ thuốc lá là vượt trội [5].

Cai thuốc lá mang lại sự sụt giảm nguy cơ đột quỵ rõ rệt chỉ sau 2 đến 4 năm [1], [2] và có thể đưa nguy cơ về mức người bình thường sau 5 đến 20 năm tùy cơ địa và tiền sử hút [3], [2]. Dù ở bất kỳ độ tuổi nào hay thâm niên hút thuốc bao lâu, việc dừng hút thuốc ngay hôm nay luôn là quyết định kịp thời để bảo vệ tính mạng. Người có bệnh lý nền tim mạch hoặc gặp khó khăn khi cai nghiện nicotine nên chủ động tham khảo ý kiến bác sĩ để nhận được phác đồ hỗ trợ phù hợp.