Lời đồn chữa bệnh và thực tế nguy hiểm
Nhiều người vẫn truyền tai nhau các bài thuốc dân gian từ rái cá như ngâm rượu, nấu cao hoặc dùng nội tạng để bồi bổ sức khỏe. Tuy nhiên, hành vi săn bắt, buôn bán và sử dụng loài động vật hoang dã này không chỉ vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp luật bảo vệ động vật nguy cấp mà còn tiềm ẩn nguy cơ lây truyền mầm bệnh nguy hiểm sang người.
Thực tế, rái cá thuộc nhóm động vật hoang dã được bảo tồn nghiêm ngặt trên quy mô toàn cầu và trong nước. Việc tiếp xúc, giết mổ và tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã nói chung và động vật ăn thịt như rái cá nói riêng là con đường ngắn nhất dẫn đến nguy cơ bùng phát các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người.
Cơ chế lây truyền dịch bệnh từ động vật hoang dã
Bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người (zoonosis) xảy ra do nhiều tác nhân như vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm, virus và thể đạm độc (prion) [1]. Những mầm bệnh này lây truyền tự nhiên từ các loài động vật có xương sống sang con người và ngược lại [1]. Khi động vật bị nuôi nhốt trong điều kiện căng thẳng, mất vệ sinh, hệ miễn dịch của chúng sẽ suy giảm đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh nhân lên và phát tán [2].
Quá trình lây nhiễm sang người diễn ra qua nhiều tiếp xúc cơ học trực tiếp hoặc gián tiếp. Sự tiếp xúc trực tiếp xảy ra qua da kề da, vết cào xước, vết cắn hoặc tiếp xúc với dịch cơ thể của con vật [3]. Ngoài ra, mầm bệnh còn lây qua đường miệng do vô tình ăn phải thức ăn hoặc nguồn nước dính tác nhân gây bệnh từ tay, dụng cụ chế biến không đảm bảo vệ sinh [3]. Các khâu thu bắt, chọc tiết, lột da, mổ bụng và tiêu thụ thịt thú rừng đều là những điểm tiếp xúc rủi ro cao [3]. Việc giết mổ sống động vật tại các điểm buôn bán tạo cơ hội lớn cho việc truyền mầm bệnh qua máu và dịch cơ thể [2].
Các bằng chứng khoa học về nguy cơ từ buôn bán động vật hoang dã
Các nghiên cứu khoa học thực tế đã chỉ ra sự hiện diện dày đặc của mầm bệnh trong hoạt động khai thác động vật hoang dã:
Một khảo sát được công bố năm 2016 tại Lào đã thu thập dữ liệu quan sát từ năm 2010 đến 2013 tại các khu chợ bán động vật hoang dã [4]. Nghiên cứu tiến hành đánh giá nguy cơ mầm bệnh đe dọa sức khỏe con người tại 7 khu chợ có khối lượng buôn bán lớn [4]. Qua 21 đợt khảo sát tại 7 khu chợ này, nhóm tác giả ghi nhận 1.937 cá thể thú còn sống hoặc mới chết (tương đương khoảng 1.009 kg) được bày bán, thuộc 12 họ phân loại từng được ghi nhận mang 36 mầm bệnh truyền nhiễm sang người [4]. Đồng thời, khi đánh giá tình trạng bảo tồn của 33.752 cá thể động vật trong 375 chuyến khảo sát tại 93 chợ theo luật thủy sản và động vật hoang dã của Lào, các nhà nghiên cứu phát hiện tới 6.452 cá thể thuộc danh mục sắp tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng [4].
Năm 2022, một nghiên cứu tại 14 chợ động vật hoang dã ở Indonesia tiến hành định lượng các loài thú thuộc 4 bộ gồm Gặm nhấm (Rodentia), Dơi (Chiroptera), Động vật ăn thịt (Carnivora) và Linh trưởng (Primates) [5]. Nhóm nghiên cứu đã ghi nhận 6.725 cá thể động vật hoang dã thuộc ít nhất 15 loài được bày bán [5]. Kết quả cho thấy 8 trong số 15 nhóm phân loại được ghi nhận là vật chủ mang 17 loài virus truyền nhiễm sang người, trong đó có 9 loài virus có thể lây nhiễm cho nhiều hơn một loài vật chủ [5]. Khỉ đuôi dài được xác định là loài có tiềm năng phát tán virus lớn nhất khi được bán tại 13 trên 14 chợ và là vật chủ tiềm năng của 9 loại virus [5]. Dơi ăn quả mũi ngắn và cáo bay lớn, vốn là vật chủ tiềm tàng mang virus Nipah, cũng được bán với số lượng lớn tại 10 trên 14 chợ [5].
Một đánh giá tổng quan công bố năm 2017 tại Malaysia về nguy cơ nhiễm trùng liên quan đến buôn bán thịt thú rừng đã tổng hợp các tài liệu khoa học và xác định được 51 mầm bệnh lây sang người, bao gồm 16 loại virus, 19 loại vi khuẩn và 16 loài ký sinh trùng tiềm ẩn trong động vật hoang dã [6]. Nghiên cứu chỉ ra rằng họ lợn (Suidae) và họ hươu nai (Cervidae) mang số lượng mầm bệnh cao nhất [6]. Một số liệu trích dẫn trong bài báo này ước tính lượng khai thác thịt thú rừng hàng năm chỉ riêng tại bang Sarawak của Malaysia đã lên tới 23.500 tấn [6].
Tại Cộng hòa Dân chủ Congo, nghiên cứu công bố năm 2022 sử dụng phương pháp dân tộc học theo dõi chuỗi buôn bán thịt thú rừng từ Yangambi đến Kisangani [3]. Nghiên cứu cho thấy rủi ro bệnh tật và mầm bệnh từ thực phẩm rình rập ở mọi mắt xích, tác động trực tiếp đến thợ săn, người tiêu dùng ở làng, người vận chuyển, tiểu thương tại chợ và người tiêu dùng thành thị [3].
Một phân tích toàn cầu năm 2018 về buôn bán động vật hoang dã sống hợp pháp giai đoạn 2012-2016 chỉ ra rằng có tới 11.569.796 cá thể động vật hoang dã sống thuộc 1.316 loài đã được xuất khẩu từ 189 quốc gia [1]. Trong đó, Trung Quốc là nước xuất khẩu thú sống lớn nhất với 98.979 cá thể (chiếm 58,7% toàn cầu); Nicaragua xuất khẩu động vật lưỡng cư lớn nhất với 122.592 con (53,8%); Nam Phi dẫn đầu về chim sống với 889.607 con (39,2%); và Peru xuất khẩu bò sát sống lớn nhất với 1.675.490 con (18,8%) [1]. Động lực tiêu thụ chính đến từ Mỹ và các quốc gia có thu nhập cao [1].
Mối liên hệ với các đại dịch và tác động y tế công cộng
Bệnh truyền nhiễm là nguyên nhân gây ra hơn 7 triệu ca tử vong mỗi năm trên toàn thế giới [5]. Đáng chú ý, động vật hoang dã là nguồn gốc của ít nhất 70% đến 75% tổng số các bệnh truyền nhiễm mới nổi ở người [2, 6, 7]. Các dịch bệnh nguy hiểm như SARS, Ebola và cúm gia cầm đã gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng và đe dọa sức khỏe cộng đồng toàn cầu [1].
Dịch SARS năm 2003 là ví dụ điển hình khi một chợ động vật hoang dã ở Trung Quốc đã tạo điều kiện cho mầm bệnh truyền sang người [4]. Bệnh cúm gia cầm và SARS đều liên quan trực tiếp đến việc buôn bán gia cầm sống và động vật ăn thịt tại các chợ truyền thống [2]. Việc nhốt chung nhiều loài động vật khác nhau tại các chợ tạo môi trường cho virus lây chéo giữa các loài và bùng phát thành dịch lớn [2].
Khoảng trống nhận thức của người dân
Dù nguy cơ lây nhiễm từ động vật hoang dã rất rõ ràng, nhận thức cộng đồng vẫn còn nhiều hạn chế. Một khảo sát bằng bảng hỏi năm 2021 trên 947 người dùng internet trưởng thành tại 3 tỉnh phía nam Trung Quốc cho thấy rất ít người có đủ kiến thức về bệnh truyền nhiễm từ động vật [7]. Mặc dù phần lớn phản đối việc khai thác tài nguyên động vật hoang dã, vẫn có 30,7% người tham gia nuôi động vật hoang dã làm thú cưng và 30,5% từng ăn thịt động vật hoang dã [7].
Đáng lo ngại hơn, dù 76,3% người tham gia tin rằng bệnh tật có thể truyền qua buôn bán động vật hoang dã, chỉ có 18,5% liên hệ việc tiếp xúc với động vật sẽ dẫn đến ốm đau, và chỉ 54,4% tìm kiếm sự điều trị y tế sau khi tiếp xúc [7]. Sự chủ quan này khiến người tiêu dùng dễ dàng tin vào các lời đồn thổi về tác dụng bồi bổ hoặc làm thuốc của thú hoang mà bỏ qua rủi ro nhiễm khuẩn nặng.
Giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện nay
Hiện tại, chưa có nghiên cứu khoa học chuyên biệt nào đánh giá tác dụng trị bệnh hay đo lường tải lượng mầm bệnh cụ thể trên việc dùng rái cá làm thuốc; các dữ liệu hiện có tập trung vào nguy cơ bệnh truyền nhiễm chung từ việc buôn bán, giết mổ các loài thú hoang dã, đặc biệt là nhóm động vật ăn thịt [1, 2, 4].
Một nghiên cứu năm 2020 đánh giá về Công ước CITES cũng chỉ ra những hạn chế lớn trong dữ liệu hiện nay: cơ sở dữ liệu CITES không ghi nhận được hoạt động buôn bán bất hợp pháp và bỏ qua các mạng lưới buôn bán nội địa, vốn là con đường lây truyền mầm bệnh rất quan trọng [8]. Hơn nữa, việc tính toán nguy cơ thực tế đòi hỏi phải đo được tải lượng mầm bệnh trong từng cá thể, nguy cơ lây truyền tại các điểm tiếp xúc và khả năng lây lan trong cộng đồng, những yếu tố mà nghiên cứu dịch tễ hiện nay vẫn đang hoàn thiện [8].
Rủi ro pháp lý và ai cần đặc biệt thận trọng
Rái cá là loài động vật hoang dã thuộc diện được pháp luật và các công ước quốc tế bảo vệ. Công ước CITES được thiết lập nhằm quản lý và hạn chế việc buôn bán các loài nguy cấp [8]. Việc săn bắt, giết mổ, buôn bán hoặc tàng trữ rái cá để ngâm rượu, làm dược liệu hay làm cảnh đều vi phạm pháp luật và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt hành chính nặng.
Về mặt sức khỏe, những người săn bắt, giết mổ, vận chuyển và tiểu thương là những đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm mầm bệnh cao nhất do tiếp xúc trực tiếp với máu, phân và dịch tiết của con vật [5, 8]. Người tiêu dùng có niềm tin mù quáng vào tác dụng chữa bệnh của thú rừng cần thận trọng tuyệt đối, bởi việc dùng sản phẩm chưa qua kiểm định thú y có thể dẫn đến nhiễm các loại vi khuẩn, virus lạ nguy hiểm tính mạng.
Áp dụng thực tế để bảo vệ sức khỏe
Để bảo vệ bản thân và cộng đồng khỏi các rủi ro bệnh tật và pháp lý, người dân cần thay đổi nhận thức và hành vi:
Tuyệt đối không mua bán, giết mổ hay tiêu thụ các sản phẩm chế biến từ rái cá dưới bất kỳ hình thức nào, bao gồm cả thịt tươi, rượu ngâm hay cao xương. Động vật ăn thịt sống trong tự nhiên tiềm ẩn nhiều vi khuẩn và virus chưa thể kiểm soát [2, 8].
Khi có vấn đề về sức khỏe, hãy thăm khám tại các cơ sở y tế uy tín và tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa thay vì tìm đến các bài thuốc truyền miệng từ thú hoang dã không có bằng chứng khoa học.
Nếu từng có tiếp xúc trực tiếp, bị cào cắn bởi động vật hoang dã hoặc có triệu chứng sốt, nhiễm trùng sau khi tiếp xúc thú lạ, cần đến ngay cơ sở y tế để được xử lý và điều trị dự phòng phơi nhiễm kịp thời [7].
Bảo vệ động vật hoang dã chính là hàng rào bảo vệ sức khỏe cho toàn xã hội. Từ bỏ thói quen sử dụng thú rừng làm thuốc giúp triệt tiêu nhu cầu thị trường, giảm thiểu nguy cơ bùng phát các đại dịch truyền nhiễm mới nổi và bảo tồn sự đa dạng sinh học cho tương lai [1, 6].




