Sau nhiều giờ làm việc trên máy tính hoặc cho con học trực tuyến, nhiều người có thói quen đảo mắt vòng tròn, nhìn xa gần hoặc bấm huyệt quanh hốc mắt. Không ít bậc phụ huynh và dân văn phòng tin rằng chăm chỉ tập các động tác này mỗi ngày sẽ giúp mắt "tập thể dục", từ đó giảm độ cận thị hoặc bỏ hẳn được kính.

Tuy nhiên, câu trả lời ngắn gọn từ các dữ liệu y khoa hiện có là: Không. Các bài tập mắt, bao gồm đảo mắt, yoga mắt hay bấm huyệt quanh mắt, có thể giúp giảm mỏi mắt và cải thiện khả năng điều tiết tạm thời [1], nhưng không có bằng chứng khoa học vững chắc nào cho thấy chúng làm giảm được độ khúc xạ cận thị hoặc thay thế việc đeo kính [2][3][1].

Vì sao tập mắt tạo cảm giác "nhìn rõ hơn" nhưng không giảm độ cận?

Cận thị là một tật khúc xạ phổ biến và có xu hướng tiến triển nặng dần, một phần do chế độ làm việc và nghỉ ngơi không hợp lý kết hợp với căng thẳng thể chất và tâm lý [4]. Ở trẻ em và thanh thiếu niên, việc tiếp xúc màn hình kéo dài, thiếu vận động và ít thời gian ở ngoài trời có thể thúc đẩy khởi phát cận thị, với tốc độ tăng độ diễn ra mạnh mẽ nhất trong độ tuổi từ 7 đến 12 [5].

Nhiều người tin vào bài tập mắt vì sau khi tập vài phút, họ thấy mắt nhẹ nhõm và nhìn chữ bớt nhòe hơn. Các nhà nghiên cứu giải thích hiện tượng này dựa trên ba cơ chế sinh lý nhưng không cơ chế nào làm thay đổi cấu trúc khúc xạ thật sự của mắt.

Thứ nhất là tác động lên "điều tiết" (accommodation) – tức khả năng thay đổi tiêu cự của mắt để nhìn rõ vật ở các khoảng cách khác nhau [6]. Các bài tập mắt được cho là giúp củng cố lực điều tiết và làm thư giãn tâm trí lẫn cơ mắt [6]. Khi cơ điều tiết đỡ căng cứng, hiện tượng giảm nhẹ độ mờ có thể xuất hiện như một hiệu ứng giải tỏa căng thẳng (stress relief) hơn là giảm cận thị thật sự [6].

Thứ hai là sự thay đổi tuần hoàn máu tại chỗ. Một nghiên cứu quan sát bằng siêu âm Doppler màu ghi nhận bài tập bấm huyệt mắt có thể làm tăng vận tốc tâm thu đỉnh tại động mạch trung tâm võng mạc và động mạch mắt, đồng thời giảm chỉ số sức cản mạch máu [7]. Tuy vậy, cơ chế thực sự để việc này làm giảm độ cận vẫn chưa rõ ràng [7].

Thứ ba, đơn giản nhất là khoảng nghỉ ngơi. Việc tạm ngừng nhìn gần (ngừng nhìn màn hình, sách vở) để thực hiện bài tập mắt chính là tạo ra một quãng nghỉ ngắn, và bản thân việc nghỉ mắt này đã giúp làm dịu các triệu chứng thị giác [7].

Các nghiên cứu thực nghiệm về bài tập mắt nói gì?

Để kiểm chứng liệu các bài tập mắt có thực sự làm giảm độ cận hay không, nhiều nhóm nghiên cứu đã tiến hành theo dõi trực tiếp trên học sinh và người bị cận thị.

Một nghiên cứu đoàn hệ quy mô lớn công bố năm 2020 đã đánh giá hiệu quả của bài tập bấm huyệt quanh mắt tại 252 trường học nông thôn được chọn ngẫu nhiên ở Trung Quốc (khảo sát ban đầu vào tháng 9/2012 và theo dõi sau 9 tháng, 21 tháng) [2]. Trong số 19.934 trẻ được sàng lọc, có 2.374 trẻ bị cận thị (độ cầu tương đương từ -0,5 diop trở lên ở một trong hai mắt, tuổi trung bình 10,5, tỷ lệ bé trai chiếm 48,5%) [2]. Nhóm nghiên cứu đã ghép cặp điểm xu hướng cho 1.652 trẻ, chia đều 826 trẻ có tập mắt và 826 trẻ không tập [2]. Kết quả sau 9 tháng và 21 tháng cho thấy việc tập mắt không liên quan đến sự thay đổi thị lực không kính cũng như tỷ lệ đeo kính [2].

Một nghiên cứu can thiệp khác công bố năm 2024 đã theo dõi 149 học sinh lớp 2 đến lớp 5 (hoàn thành theo dõi 134 em, trong đó nữ chiếm 45,52%) tại Ôn Châu, bắt đầu từ tháng 6/2022 [1]. Học sinh được hướng dẫn tập mắt chuẩn xác trong 1 tháng và đánh giá lại sau 3 tháng, 9 tháng [1]. Kết quả cho thấy kỹ thuật bấm huyệt, nhịp điệu và xác định huyệt của trẻ tăng từ 10,37% đến 25,17% [1]. Bài tập chất lượng cao giúp cải thiện biên độ điều tiết một mắt và hai mắt trong ngắn hạn, đồng thời giảm mỏi mắt rõ rệt [1]. Tuy nhiên, bài tập hoàn toàn không mang lại lợi thế nào trong việc thay đổi độ khúc xạ cầu tương đương hay thị lực không kính của trẻ (P > 0,05) [1].

Đối với các phương pháp đảo mắt và nhìn tập trung như phương pháp Bates hay Trataka Yoga, một nghiên cứu so sánh năm 2018 cũng không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê sau can thiệp về tật khúc xạ (P = 0,425 ở mắt phải; P = 0,459 ở mắt trái) lẫn thị lực (P = 0,656 ở mắt trái; P = 0,982 ở mắt phải) [6]. Nhóm tác giả nhận định mức giảm độ rất nhỏ ghi nhận được có thể chỉ do giảm căng thẳng, kèm theo giới hạn về sai số chọn mẫu (dải độ cận của người tham gia quá rộng), đánh giá chủ quan và một số biến số không được kiểm soát [6].

Trước đó, một nghiên cứu năm 2016 trên trẻ em nông thôn Trung Quốc từng ghi nhận chỉ khoảng 15% học sinh nông thôn thực sự tập mắt ở trường (thấp hơn nhiều so với mức 96,6% ở thành thị) [7]. Dù một khảo sát dịch tễ học (612 trẻ lớp 2 đến lớp 6) trong báo cáo này nêu tỷ lệ cận thị ở nhóm tập thường xuyên thấp hơn nhóm ít tập (29,53% so với 38,52%), nhưng tại nghiên cứu ở khu vực thành thị của cùng nhóm tác giả, hiệu quả bảo vệ của bài tập mắt đối với cận thị đã không còn ý nghĩa thống kê sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu [7].

Tổng hợp bằng chứng: Không nên kỳ vọng "chữa cận" bằng tập mắt

Khi gộp nhiều nghiên cứu riêng lẻ lại, bức tranh khoa học càng trở nên rõ ràng hơn. Một tổng quan hệ thống năm 2005 đã rà soát các cơ sở dữ liệu y khoa lớn và thu thập 43 nghiên cứu được bình duyệt (gồm 14 thử nghiệm lâm sàng với 10 nghiên cứu có đối chứng, 18 bài tổng quan) [8]. Các tác giả kết luận bài tập thị giác chỉ có bằng chứng ủng hộ trong điều trị "thiếu hụt quy tụ" (convergence insufficiency) hoặc hỗ trợ phục hồi thị trường sau tổn thương não, chứ chưa có bằng chứng khoa học rõ ràng nào ủng hộ việc dùng bài tập mắt để chữa cận thị [8].

Gần đây hơn, một phân tích gộp công bố kết quả tìm kiếm từ 9 cơ sở dữ liệu tính đến ngày 15/12/2022 đã phân tích 11 nghiên cứu có đối chứng với tổng cộng 921 người tham gia [3]. Trong 7 nghiên cứu đo lường bằng thị lực, thị lực vẫn suy giảm sau can thiệp tập mắt (SMD = -0,67, P = 0,03) và hiệu quả không tốt hơn nhóm đối chứng (P = 0,14) [3]. Trong 2 nghiên cứu đo trực tiếp độ khúc xạ, can thiệp tập mắt cũng không khác biệt so với nhóm chứng (SMD = -1,74, P = 0,45) [3].

Mặc dù 7 nghiên cứu trong phân tích này có báo cáo về tác dụng bảo vệ/giảm nhẹ (RR = 0,40, P < 0,01), nhưng chất lượng bằng chứng lại có giới hạn lớn: 9/11 nghiên cứu có nguy cơ sai lệch ở ít nhất hai khía cạnh và 2 nghiên cứu có nguy cơ sai lệch cao [3]. Do đó, nhóm nghiên cứu kết luận bài tập mắt có rất ít hoặc không có hiệu quả trong việc phòng ngừa và kiểm soát tiến triển cận thị, thậm chí đề xuất xem xét dừng chính sách bắt buộc tập mắt tại trường học cho đến khi có bằng chứng mạnh mẽ hơn [3].

Hiểu lầm thường gặp: Nhầm giữa "tập cơ mắt tại chỗ" và "vận động thể chất ngoài trời"

Sai lầm phổ biến nhất của người bị cận và phụ huynh là ngồi yên trong phòng kín để đảo mắt, bấm huyệt với hy vọng giảm độ, trong khi lại bỏ qua yếu tố thực sự có lợi cho mắt là vận động thể chất toàn thân và hoạt động ngoài trời.

Một nghiên cứu năm 2017 theo dõi 600 trẻ em và thanh thiếu niên từ 8 đến 17 tuổi trong 12 tháng, chia làm hai nhóm: 300 em thường xuyên tập thể thao và 300 học sinh không tập thể thao định kỳ [4]. Kết quả sau 1 năm cho thấy mức suy giảm khúc xạ (tăng độ cận) ở nhóm học sinh ít vận động trung bình là 0,35 ± 0,61 diop (p < 0,001), nặng hơn đáng kể so với mức thay đổi 0,14 ± 0,18 diop (p = 0,009) ở nhóm trẻ tập thể thao thường xuyên [4].

Bổ sung cho điều này, một phân tích gộp năm 2025 cho thấy mức độ hoạt động thể chất tỷ lệ nghịch với độ nặng của cận thị (p = 0,015), và thời gian ở ngoài trời nhiều hơn gắn liền với chỉ số khúc xạ cầu tương đương tốt hơn ở trẻ 12 tuổi (p = 0,003) [5]. Trên 432 trẻ từ 10 đến 11 tuổi, can thiệp vận động thể chất trong 18 tháng giúp cải thiện tỷ lệ tiểu động mạch/tiểu tĩnh mạch võng mạc ở 83% trẻ tham gia (tăng trung bình từ 0,88 ± 0,06 lên 0,91 ± 0,06) và giảm giãn tĩnh mạch võng mạc (p = 0,019) [5]. Ngoài ra, vận động thể chất còn giúp giảm mức độ mỏi mắt ở 896 thanh thiếu niên từ 12 đến 13 tuổi (MD = -0,15, p = 0,02) [5].

Ai nên thận trọng khi áp dụng các bài tập mắt?

Dù các bài tập mắt nhẹ nhàng nhìn chung ít gây hại trực tiếp, một số nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng để không bỏ lỡ "thời gian vàng" bảo vệ thị lực:

  • Trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 12: Thị lực nhìn xa không kính phát triển nhanh trước 6 tuổi và thường hoàn thiện vào khoảng 8 tuổi, trong khi giai đoạn từ 7 đến 12 tuổi là lúc độ cận tiến triển nhanh nhất [5]. Nếu phụ huynh chỉ cho con tập mắt mà trì hoãn khám chuyên khoa hoặc không cho đeo kính đúng độ, độ cận sẽ tích lũy nhanh, làm tăng nguy cơ cận thị nặng và cận thị bệnh lý về sau [5].
  • Người có các rối loạn thị giác hai mắt hoặc bệnh nền tại mắt: Những người bị thiếu hụt quy tụ, rối loạn vận nhãn hoặc suy giảm thị trường sau tổn thương não cần được tập luyện thị giác theo phác đồ chuyên biệt của chuyên gia khúc xạ thay vì tự tập theo mạng xã hội [8].
  • Người đang có triệu chứng bất thường ở mắt: Nếu nhìn mờ kèm nhức đầu, đau mắt hoặc đang điều trị bệnh lý mắt, người bệnh cần hỏi ý kiến bác sĩ nhãn khoa trước khi tác động lực (như bấm huyệt, day ấn) lên vùng quanh hốc mắt.

Áp dụng thực tế thế nào để bảo vệ mắt trước màn hình?

Thay vì tìm cách "chữa khỏi" cận thị bằng các bài đảo mắt, bạn có thể sử dụng chúng đúng với vai trò thực sự và kết hợp các thói quen đã được chứng minh hiệu quả:

  • Dùng bài tập mắt như một "công cụ thư giãn" khi mỏi: Khi làm việc với màn hình kéo dài, bạn hoặc trẻ nhỏ (đặc biệt lứa tuổi 7-11) có thể dừng lại vài phút để nhắm mắt, bấm huyệt nhẹ nhàng đúng vị trí hoặc nhìn xa nhằm giảm mỏi mắt và hỗ trợ biên độ điều tiết ngắn hạn [1]. Lưu ý thực hiện với tay sạch và lực vừa phải, xem đây là lúc cho mắt nghỉ nhìn gần [7].
  • Tăng cường vận động thể chất và ra ngoài trời: Khuyến khích trẻ em và thanh thiếu niên duy trì hoạt động thể thao đều đặn và tăng thời gian ở ngoài trời mỗi ngày. Đây là biện pháp vừa giúp giảm mỏi mắt, cải thiện vi mạch võng mạc, vừa làm chậm đà tăng độ cận rõ rệt hơn so với ngồi trong nhà tập mắt [4][5].
  • Tuân thủ đeo kính và khám mắt định kỳ: Đeo kính đúng số đo giúp giải quyết tình trạng suy giảm thị lực do tật khúc xạ một cách hiệu quả [2]. Người bị cận cần đi kiểm tra khúc xạ định kỳ tại cơ sở y tế uy tín để theo dõi độ cận và điều chỉnh kính kịp thời.

Tóm lại, các bài tập đảo mắt hay bấm huyệt quanh mắt không thể làm giảm độ cận thị hay giúp bạn bỏ kính như nhiều lời đồn thổi [2][3]. Giá trị thực sự của chúng chỉ dừng lại ở việc cho mắt một quãng nghỉ ngắn và giảm cảm giác căng mỏi tạm thời sau giờ nhìn màn hình [7][1]. Để kiểm soát cận thị bền vững, giải pháp cốt lõi vẫn là giảm thời gian nhìn gần liên tục, tăng vận động ngoài trời và tuân thủ hướng dẫn chỉnh kính của bác sĩ nhãn khoa [4][5].