Nhiều người cao tuổi duy trì thói quen uống viên bổ sung canxi mỗi ngày để ngừa loãng xương và duy trì hệ xương chắc khỏe. Tuy nhiên, không ít người dù bổ sung đều đặn trong thời gian dài nhưng mật độ xương vẫn không cải thiện như mong đợi. Nguyên nhân phổ biến nằm ở sự suy giảm bài tiết axit dịch vị ở đường tiêu hóa, khiến dạng canxi thông dụng nhất khó hòa tan để hấp thu vào cơ thể.
Người cao tuổi bị thiếu axit dạ dày sẽ bị cản trở nghiêm trọng quá trình hòa tan và hấp thu canxi cacbonat nếu uống lúc đói [2, 3]. Muối canxi cacbonat bắt buộc phải có môi trường axit clohydric mạnh để ion hóa thành dạng tan [3, 6]. Khi dạ dày thiếu toan, tỷ lệ hấp thu muối này giảm xuống mức rất thấp, đòi hỏi người dùng phải chuyển sang uống kèm bữa ăn hoặc đổi sang muối canxi hữu cơ như canxi citrat [2, 7].
Axit dạ dày biến đổi ra sao khi bước vào tuổi già?
Nhiều người lầm tưởng rằng quá trình lão hóa tự nhiên luôn đi kèm với việc dạ dày giảm tiết axit toàn diện. Thực tế, một nghiên cứu so sánh khả năng tiết axit ở 29 người trẻ và 79 người cao tuổi cho thấy bài tiết axit dạ dày không suy giảm đơn thuần theo tuổi tác [1]. Ở trạng thái đói, độ pH dạ dày của người già khỏe mạnh (độ tuổi trung bình 71 ± 5) ghi nhận mức 1,3 (dao động 1,1 - 1,6), trong khi ở 24 người trẻ cùng nghiên cứu là 1,7 (dao động 1,4 - 2,0) [1]. Một nghiên cứu khác đo trên 14 người trẻ khỏe mạnh (trung bình 30 tuổi) ghi nhận pH dạ dày lúc đói ở mức 2,05 (dao động 1,62 - 2,13) [1].
Dù pH lúc đói của đường tiêu hóa không thay đổi nhiều do lão hóa sinh lý bình thường, dạ dày người già mất nhiều thời gian hơn để đưa nồng độ pH sau bữa ăn trở về mức lúc đói ban đầu [1]. Đáng chú ý, tỷ lệ mắc chứng vô toan dạ dày (achlorhydria - thiếu hoàn toàn axit dạ dày) ở người cao tuổi chiếm khoảng 10% đến 20%, trong khi ở người trẻ tuổi tỷ lệ này chỉ dưới 1% [1]. Sự thay đổi sinh lý khi già đi thường khu trú ở hấp thu canxi, kẽm, magie; riêng chứng vô toan có thể dẫn đến kém hấp thu vitamin B12, axit folic và canxi [2]. Tình trạng giảm toan dạ dày hay vận động ruột thay đổi cũng khiến hội chứng quá phát vi khuẩn ruột non xuất hiện phổ biến hơn ở người già [2]. Bên cạnh đó, người cao tuổi thường sử dụng các liệu pháp ức chế axit dạ dày hoặc tự bổ sung canxi cacbonat, làm tăng thêm độ pH của đường tiêu hóa [1].
Cơ chế hòa tan: Vì sao canxi cacbonat cần axit dạ dày?
Canxi cacbonat là dạng bổ sung vô cơ phổ biến nhất trên thị trường nhờ ưu điểm chứa hàm lượng canxi nguyên tố cao nhất theo trọng lượng, đạt khoảng 40% [3]. Tuy nhiên, dạng muối vô cơ này lại có độ hòa tan trong nước thấp nhất so với các dạng muối khác [3]. Để ruột có thể tiếp nhận, canxi cacbonat bắt buộc phải trải qua quá trình hòa tan và ion hóa dưới tác động của axit dạ dày [3, 6].
Khi có đủ axit clohydric, phản ứng hóa học diễn ra giúp chuyển đổi canxi cacbonat không tan thành canxi clorua [3, 6]. Canxi clorua là chất tan rất tốt trong nước ở pH trung tính, đưa toàn bộ canxi về dạng ion tự do để sẵn sàng hấp thu tại ruột non [3, 6]. Về mặt vật lý hóa học, độ hòa tan của một viên canxi cacbonat 500 mg phụ thuộc hoàn toàn vào môi trường axit:
- Ở độ pH 2,5 (tương đương môi trường dạ dày bình thường), độ hòa tan đạt tuyệt đối 100% [3].
- Khi độ pH tăng lên mức 5,5 (tương đương pH ở tá tràng), độ hòa tan giảm xuống còn 86% [3].
- Ở độ pH trung tính, chỉ vỏn vẹn 1% lượng canxi cacbonat trong viên 500 mg có thể hòa tan [3].
Khi dịch tiêu hóa đi xuống ruột non, độ pH kiềm hơn sẽ biến đổi ngược CO2 thành bicacbonat hoặc cacbonat, khiến một phần canxi tái tạo lại thành dạng muối canxi cacbonat rất ít tan [4]. Do đó, nếu thiếu axit dịch vị ngay từ giai đoạn đầu ở dạ dày, phần lớn canxi cacbonat trôi xuống ruột sẽ không thể phân ly thành ion, trơ ra trước niêm mạc và bị đào thải ra ngoài mà không được cơ thể sử dụng [2, 6].
Các bằng chứng khoa học về hấp thu canxi khi thiếu toan
Các nhà khoa học đã tiến hành nhiều thử nghiệm lâm sàng nhằm làm rõ sự suy giảm hấp thu muối canxi ở người thiếu axit dạ dày. Trong một công trình công bố năm 1985, tác giả đã tiến hành thử nghiệm so sánh hấp thu canxi dạng cacbonat và canxi citrat được điều chỉnh pH trên 11 bệnh nhân vô toan dạ dày và 9 người bình thường trong điều kiện nhịn đói qua đêm [5]. Quá trình đo lường dựa trên kỹ thuật đồng vị kép cải tiến với liều nạp 0,25 g canxi [5].
Kết quả cho thấy ở nhóm vô toan dạ dày khi nhịn đói, độ hấp thu canxi phân đoạn trung bình từ muối cacbonat chỉ đạt 0,042 ± 0,021 (tương đương khoảng 4,2% đến 4,7%), thấp hơn rất nhiều so với mức 0,452 ± 0,125 khi dùng canxi citrat (P < 0,0001) [2, 6]. Trong khi đó, ở nhóm người bình thường có đủ axit, sự khác biệt giữa hai dạng muối không có ý nghĩa thống kê, với tỷ lệ hấp thu canxi citrat là 0,243 ± 0,049 và canxi cacbonat là 0,225 ± 0,108 (khoảng 22,5%) [2, 6]. Như vậy, khi bụng đói, bệnh nhân vô toan dạ dày hấp thu canxi cacbonat kém hơn hẳn người bình thường [5].
Sự cản trở này cũng được ghi nhận khi sử dụng các thuốc kháng tiết axit dịch vị. Một nghiên cứu ngẫu nhiên trên phụ nữ sử dụng thuốc ức chế bơm proton omeprazole cho thấy tỷ lệ hấp thu canxi cacbonat sụt giảm 41% ở trạng thái đói [3]. Mặc dù vậy, y văn ghi nhận kết quả giữa các nghiên cứu trên người vẫn còn mâu thuẫn do hạn chế về phương pháp đo lường, đối tượng nghiên cứu, bệnh đồng mắc hay thời gian dùng thuốc [3]. Đơn cử, một nghiên cứu mù đôi, đối chứng giả dược chéo trên 12 người trẻ khỏe mạnh dùng omeprazole ngắn ngày (dưới 12 ngày) lại không phát hiện khác biệt ngắn hạn về hấp thu canxi đồng vị hay bài tiết canxi qua nước tiểu [3].
Về tác động của chế độ ăn, một nghiên cứu năm 1991 đo lường sự lưu giữ canxi bằng máy đếm toàn thân trên 9 người già bình thường và 8 người già vô toan dạ dày khi dùng bữa ăn ít xơ (0,5 g xơ), nhiều xơ (10,5 g xơ) và nhiều xơ kèm 120 mL dung dịch axit clohydric 0,1 mol/L [6]. Kết quả cho thấy bữa ăn giàu chất xơ làm giảm hấp thu canxi ở cả hai nhóm so với bữa ăn ít xơ (ở nhóm chứng giảm từ 25,7 ± 4,0% xuống 19,1 ± 1,9%; ở nhóm vô toan giảm từ 26,2 ± 8,0% xuống 19,6 ± 4,1%), nhưng việc bổ sung thêm axit dịch vị không làm thay đổi tỷ lệ này, chứng minh ảnh hưởng ức chế của chất xơ không phụ thuộc vào pH dạ dày [6].
Hiểu lầm phổ biến và giải pháp từ bữa ăn
Một hiểu lầm rất phổ biến là người cao tuổi thiếu axit dạ dày hay viêm teo niêm mạc dạ dày thì hoàn toàn không thể dùng được canxi cacbonat. Thực tế, các đánh giá lâm sàng chỉ ra rằng tác động tiêu cực của việc tăng pH dạ dày lên độ hòa tan canxi cacbonat chỉ biểu hiện rõ khi uống bổ sung vào lúc đói [2, 7].
Ngay trong nghiên cứu năm 1985, khi cho các đối tượng vô toan dạ dày dùng canxi cacbonat cùng với một bữa ăn sáng tiêu chuẩn, mức hấp thu canxi đã đảo ngược hoàn toàn, trở về mức bình thường tương đương người khỏe mạnh [2, 6]. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ hấp thu canxi từ canxi cacbonat ở người vô toan tăng vọt từ 4,7% lúc đói lên xấp xỉ 21% khi ăn kèm bữa sáng [4].
Cơ chế của hiện tượng này bắt nguồn từ việc thức ăn làm chậm tốc độ làm rỗng của dạ dày [4]. Thời gian tháo rỗng dạ dày kéo dài từ 15 phút ở trạng thái đói lên đến 60 phút ở trạng thái no [4]. Khoảng thời gian lưu giữ kéo dài cùng sự nhào trộn với khối thức ăn và dịch tiêu hóa cho phép các phân tử canxi cacbonat ít tan được phân tán, hòa tan và nhũ tương hóa tốt hơn, giúp chúng sẵn sàng để niêm mạc ruột hấp thu mà không đòi hỏi nồng độ axit dịch vị quá đậm đặc [6, 7].
Các dạng muối canxi thay thế hòa tan tốt
Đối với người cao tuổi bị thiếu toan dạ dày, teo niêm mạc dạ dày hoặc người phải sử dụng thuốc ức chế axit dạ dày dài ngày, việc lựa chọn muối canxi hữu cơ hòa tan trong nước là giải pháp thay thế tối ưu [3, 7]. Các muối canxi hữu cơ như canxi citrat hay canxi gluconat có đặc tính tan hoàn toàn trong nước và quá trình hòa tan không phụ thuộc vào độ pH dạ dày [3]. Do đó, canxi citrat được hấp thu tốt cả khi bụng đói lẫn bụng no [6, 7]. Nguồn canxi hòa tan từ sữa cũng được hấp thu bình thường ở người già bị viêm teo dạ dày [7].
Tuy nhiên, người dùng cần lưu ý hàm lượng canxi nguyên tố giữa các dạng muối:
- Canxi cacbonat: Chứa 40% canxi nguyên tố theo trọng lượng [3].
- Canxi citrat: Chứa 21% canxi nguyên tố [3].
- Canxi lactat: Chứa 14% canxi nguyên tố [3].
- Canxi gluconat: Chứa 9% canxi nguyên tố [3].
Do lượng canxi nguyên tố trong canxi citrat thấp hơn gần một nửa so với canxi cacbonat, kích thước viên nén hoặc số lượng viên phải uống trong ngày sẽ tăng lên để đạt cùng một liều mục tiêu, ảnh hưởng đến độ thuận tiện khi sử dụng [3].
Bên cạnh dạng viên nén rắn, dạng bào chế cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hấp thu. Một nghiên cứu năm 1998 so sánh sự hấp thu canxi qua xét nghiệm nạp canxi đường uống trên 15 phụ nữ trẻ và 20 phụ nữ lớn tuổi khỏe mạnh cho thấy dạng bào chế tạo ra sự khác biệt rõ rệt [8]. Nghiên cứu so sánh canxi citrat dạng rắn, canxi citrat dạng hòa tan và canxi gluconolactat-cacbonat (đều ở mức liều 1000 mg canxi nguyên tố) [8]. Kết quả cho thấy canxi citrat dạng dung dịch hòa tan và canxi gluconolactat tạo ra mức tăng canxi huyết tương và canxi niệu sau uống cao hơn có ý nghĩa thống kê so với canxi citrat dạng rắn (viên nén) ở cả phụ nữ trẻ và phụ nữ cao tuổi [8]. Cả hai nhóm tuổi đều có đáp ứng hấp thu tương tự nhau [8].
Ai nên thận trọng khi lựa chọn canxi?
Các nhóm đối tượng sau đây cần đặc biệt lưu ý về loại muối canxi và thời điểm uống để tránh lãng phí thuốc và nguy cơ tác dụng phụ:
- Người trên 65 tuổi có triệu chứng giảm tiết dịch vị hoặc được chẩn đoán viêm teo niêm mạc dạ dày [1, 7].
- Người đang điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton (PPI) hoặc các thuốc kháng axit dạ dày dài ngày [1, 3].
- Bệnh nhân mắc hội chứng kém hấp thu, bệnh Celiac hoặc bệnh lý thần kinh như Parkinson đi kèm giảm toan dịch vị [2].
Ngoài ra, việc dùng canxi cacbonat liều cao có thể làm tăng độ kiềm trong dạ dày, từ đó làm thay đổi sinh khả dụng của nhiều loại thuốc đi kèm [1]. Điển hình, nồng độ phơi nhiễm (Cmax và AUC) của thuốc kháng nấm ketoconazole bị sụt giảm khi pH dạ dày tăng cao [1]. Các thuốc kháng sinh và thuốc điều trị khác cũng bị giảm hấp thu trong môi trường pH cao hoặc khi uống trong vòng 2-4 giờ quanh bữa ăn bao gồm itraconazole, cefaclor, ceftibuten, azithromycin, erythromycin, sulfonamides, dapsone, pyrimethamine và atazanavir [1]. Vì vậy, những người đang dùng các nhóm thuốc này cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để phân chia khung giờ uống cách xa viên canxi.
Hướng dẫn áp dụng thực tế để tối ưu hóa hấp thu
Một liều canxi nguyên tố khuyến nghị từ 1000 đến 1500 mg mỗi ngày kết hợp với vitamin D được xem là giải pháp phù hợp để phòng ngừa và kiểm soát loãng xương ở người cao tuổi [8]. Để tối đa hóa sinh khả dụng của canxi, độc giả có thể thực hiện theo các bước sau:
Ưu tiên bổ sung canxi từ nguồn thực phẩm tự nhiên, đặc biệt là tăng cường tiêu thụ sữa và các chế phẩm từ sữa vì canxi từ sữa dễ hòa tan và hấp thu bình thường ở người suy giảm axit dịch vị [7]. Khẩu phần ăn nên cân bằng lượng xơ, tránh ăn quá nhiều chất xơ trong một bữa vì hàm lượng xơ cao (khoảng 10,5 g) có thể làm giảm khả năng giữ canxi của cơ thể [6].
Nếu lựa chọn viên bổ sung canxi cacbonat (do giá thành thấp, viên nhỏ gọn, hàm lượng canxi nguyên tố cao 40%), bắt buộc phải uống trong bữa ăn hoặc ngay sau bữa ăn [2, 3, 7]. Tuyệt đối không uống canxi cacbonat vào lúc bụng đói hoặc trước khi đi ngủ cách xa bữa ăn [2, 7].
Trường hợp người cao tuổi bị chứng vô toan dạ dày, đang phải uống thuốc dạ dày kéo dài hoặc hay bị đầy bụng, khó tiêu khi uống canxi cacbonat, nên đổi sang muối canxi citrat hoặc các dạng canxi hữu cơ hòa tan [3, 7]. Dạng muối này có thể uống linh hoạt lúc đói hoặc lúc no đều đạt tỷ lệ hấp thu tốt [6, 7]. Nếu có điều kiện, người bệnh có thể lựa chọn canxi citrat dạng bột hòa tan trong nước để đạt độ hấp thu tiêu hóa tối ưu hơn dạng viên nén rắn [8].
Hiệu quả của việc bổ sung canxi phụ thuộc phần lớn vào môi trường dịch vị dạ dày và dạng muối được lựa chọn. Người cao tuổi không nhất thiết phải ngưng dùng canxi cacbonat nếu biết cách uống kèm ngay trong bữa ăn để mượn thời gian lưu giữ của thực phẩm giúp hòa tan khoáng chất. Việc hiểu rõ tình trạng sức khỏe đường tiêu hóa và tham vấn ý kiến chuyên gia y tế sẽ giúp người cao tuổi chọn đúng loại canxi, bảo vệ hệ xương mà không gây gánh nặng cho dạ dày.







