Nhiều người có thói quen ăn trứng mỗi sáng nhưng luôn lo sợ lượng cholesterol trong lòng đỏ sẽ làm tăng mỡ máu. Ngược lại, không ít người ăn uống thoải mái mà chỉ số xét nghiệm lipid máu vẫn hoàn toàn bình thường. Sự khác biệt này khiến nhiều người băn khoăn liệu cơ thể mình phản ứng ra sao khi nạp cholesterol từ thực phẩm.
Các dữ liệu nghiên cứu chỉ ra rằng có khoảng 1/3 dân số thuộc nhóm "phản ứng mạnh" (hyper-responders) với cholesterol trong thức ăn [1]. Ở nhóm người này, nồng độ cholesterol toàn phần và lipoprotein trong huyết tương tăng cao rõ rệt sau các bữa ăn giàu dưỡng chất này [1].
Cơ chế sinh học đằng sau hiện tượng phản ứng mạnh
Khi tiêu thụ thực phẩm chứa cholesterol, cơ thể mỗi loài và mỗi cá thể có khả năng điều hòa lipid máu rất khác nhau. Ở các dòng thỏ thí nghiệm, chế độ ăn bổ sung 0,15 g cholesterol trên 100 g thức ăn làm tăng nồng độ cholesterol toàn phần trong huyết tương và tăng tỷ lệ cholesteryl ester/triacylglycerol ở mọi hạt lipoprotein [2]. Những biến đổi này xuất hiện mạnh hơn đáng kể ở nhóm phản ứng mạnh so với nhóm phản ứng yếu [2]. Đáng chú ý, việc ăn nhiều cholesterol làm giảm triacylglycerol huyết tương ở nhóm phản ứng mạnh, nhưng lại làm tăng chỉ số này ở nhóm phản ứng yếu [2]. Hiện tượng này đi kèm với sự gia tăng hoạt tính của enzyme lipase gan và lipoprotein lipase ở nhóm phản ứng mạnh cao hơn nhóm phản ứng yếu [2].
Nghiên cứu trên thỏ cũng ghi nhận hoạt tính của protein vận chuyển phospholipid (PLTP) tăng mạnh hơn ở nhóm phản ứng mạnh, trong khi protein chuyển cholesteryl ester (CETP) lại tăng ít hơn, và hoạt tính LCAT không thay đổi [2]. Quá trình tích lũy cholesterol toàn cơ thể ở nhóm phản ứng cao cũng vượt trội, tập trung chủ yếu ở huyết tương và gan, đồng thời đi kèm sự gia tăng trọng lượng tuyến thượng thận và nồng độ corticosterone [3]. Yếu tố di truyền liên quan đến locus Est-2 cũng được ghi nhận có liên quan mật thiết đến mức độ đáp ứng này [3].
Ở cấp độ linh trưởng, các nghiên cứu trên khỉ đầu chó cho thấy khi tiêu thụ chế độ ăn giàu chất béo và cholesterol giống người, nồng độ LDL cholesterol không liên quan trực tiếp đến sự phiên mã thụ thể LDL ở gan hay độ hấp thu tại ruột [4]. Thay vào đó, phản ứng này liên quan nghịch với nồng độ 27-hydroxycholesterol huyết tương cùng hoạt tính và lượng mRNA của enzyme sterol 27-hydroxylase trong gan [4]. Động vật phản ứng yếu có khả năng cảm ứng gia tăng enzyme sterol 27-hydroxylase tốt hơn động vật phản ứng mạnh [4]. Ngoài ra, lượng mỡ bão hòa đi kèm như dầu dừa làm bộc lộ sự khác biệt kiểu hình rõ rệt hơn so với dầu ngô [5].
Nghiên cứu lâm sàng: Nhóm phản ứng mạnh chiếm bao nhiêu phần trăm?
Các thử nghiệm trên người đã làm rõ tỷ lệ cá thể có phản ứng mạnh với nguồn cholesterol ngoại sinh. Nghiên cứu công bố năm 2006 tiến hành trên 29 phụ nữ sau mãn kinh (50-68 tuổi) và 13 nam giới (60-80 tuổi) sử dụng thiết kế bắt chéo [1]. Các đối tượng tiêu thụ 3 quả trứng mỗi ngày (cung cấp 640 mg cholesterol/ngày) hoặc lượng chất thay thế trứng tương đương không chứa cholesterol trong 30 ngày, xen kẽ giai đoạn đào thải 3 tuần [1]. Nghiên cứu định nghĩa nhóm phản ứng mạnh là những người có mức tăng cholesterol huyết tương trên 2,2 mg/dL cho mỗi 100 mg cholesterol ăn thêm [1].
Kết quả nghiên cứu này ghi nhận khoảng 1/3 số cá nhân thuộc nhóm phản ứng mạnh với cholesterol thực phẩm [1]. Khi ăn trứng, nhóm phản ứng mạnh bị tăng cả nồng độ LDL cholesterol (LDL-C) và HDL cholesterol (HDL-C), trong khi nhóm phản ứng yếu không có sự thay đổi khác biệt giữa chế độ ăn trứng và chế độ ăn thay thế [1].
Trước đó, một nghiên cứu lâm sàng công bố năm 1985 theo dõi 21 nam giới trung niên khỏe mạnh trong 3 tháng [6]. Sau khi ăn thêm 3 quả trứng/ngày vào khẩu phần quen thuộc suốt 28 ngày, 21 người này được phân loại thành 8 người phản ứng mạnh và 13 người phản ứng yếu [6]. Nồng độ cholesterol huyết tương trung bình của toàn bộ 21 người tăng từ 188 ± 36 lên 199 ± 36 mg/100 mL [6]. Riêng ở nhóm phản ứng mạnh, chỉ số này tăng đáng kể từ 170 ± 41 lên 199 ± 29 mg/100 mL, trong khi nhóm phản ứng yếu hơi giảm nhẹ [6]. Đáng chú ý, khi bổ sung tới 6 quả trứng/ngày cho nhóm phản ứng yếu, mức trung bình không đổi nhưng lại phân hóa thành 6 người bắt đầu tăng và 7 người giữ mức thấp, chứng minh cơ thể tồn tại các ngưỡng đáp ứng khác nhau [6].
Bản chất hạt lipoprotein ở người phản ứng mạnh
Mặc dù chỉ số LDL-C trong máu tăng vọt khi ăn nhiều cholesterol, các phân tích sâu hơn về mặt cấu trúc hạt mang lại góc nhìn đa chiều. Trong nghiên cứu năm 2006, phương pháp quang phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) cho thấy ở nhóm phản ứng mạnh sau khi ăn trứng, kích thước hạt LDL tăng lên đạt mức không dưới 21,2 nm [1]. Đây là dạng hạt LDL kích thước lớn, ít có nguy cơ gây xơ vữa hơn so với dạng hạt nhỏ đậm đặc [1].
Đồng thời, kích thước hạt HDL ở nhóm này cũng mở rộng trên 8,8 nm [1]. Điều quan trọng là tổng số lượng hạt LDL và HDL không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trước và sau can thiệp [1]. Sự gia tăng chỉ số nồng độ thực chất phản ánh sự thay đổi của các phân nhóm hạt ít gây xơ vữa hơn chứ không làm tăng tổng số lượng hạt lưu hành [1]. Bên cạnh đó, việc ăn trứng làm tăng nồng độ lutein huyết tương từ 32,4 ± 15,2 lên 46,4 ± 23,3 ng/L và zeaxanthin từ 8,8 ± 4,8 lên 10,7 ± 5,8 ng/L ở mọi cá nhân, trong đó nhóm phản ứng mạnh đạt nồng độ carotenoid cao hơn nhóm phản ứng yếu [1].
Tranh luận về tính nhất quán của phản ứng
Bên cạnh quan điểm chia nhóm rạch ròi, giới khoa học cũng ghi nhận những kết quả đa chiều về sự biến thiên lipid máu. Nghiên cứu năm 1995 trên 67 người có mức cholesterol ban đầu 5,5-7,9 mmol/L sử dụng chế độ ăn bắt chéo kép với chất béo bão hòa (21% và 10% năng lượng) trong chu kỳ 6 tuần [7]. Kết quả cho thấy có 46 người phản ứng nhất quán và 21 người phản ứng dao động [7]. Sự thay đổi nồng độ cholesterol ở nhóm phản ứng mạnh nhất quán là 1,16 mmol/L và 0,95 mmol/L qua hai lần thử thách, tương quan thuận với hoạt tính chuyển ester cholesteryl, chỉ số apoB, triglyceride và mức cholesterol ban đầu [7].
Tuy nhiên, nghiên cứu năm 1999 áp dụng mô hình can thiệp chất béo bão hòa và không bão hòa đa không ghi nhận bằng chứng về hai nhóm dân số phản ứng cao và tối thiểu riêng biệt [8]. Thay vào đó, phản ứng biến thiên theo một dải liên tục và sự dao động giữa các lần thử nghiệm phần lớn xuất phát từ mức độ tuân thủ chế độ ăn của người tham gia [8]. Việc đáp ứng với chất béo và cholesterol thực tế là sự kết hợp phức tạp giữa đặc điểm sinh học cá thể và kỷ luật ăn uống [8].
Những hiểu lầm thường gặp
Quan niệm cho rằng ăn cholesterol luôn làm tăng mỡ máu đối với mọi người là không chính xác. Thực tế có khoảng 2/3 dân số thuộc nhóm phản ứng yếu hoặc hầu như không đổi chỉ số lipid khi tiêu thụ thực phẩm giàu cholesterol ở mức thông thường [1], [6]. Ngay cả ở nhóm phản ứng yếu, phải nâng lượng trứng lên mức rất cao (như 6 quả/ngày) mới thấy sự biến động ở một bộ phận cá thể [6].
Một hiểu lầm khác là cứ tăng chỉ số LDL-C sau khi ăn trứng đồng nghĩa với việc tăng nguy cơ xơ vữa động mạch. Bằng chứng khoa học cho thấy sự gia tăng này ở nhóm phản ứng mạnh chủ yếu là do hạt LDL nở to về kích thước chứ không làm tăng tổng số hạt lipoprotein gây hại, đồng thời chỉ số HDL-C bảo vệ cũng tăng song hành [1]. Ngoài ra, cơ thể còn nhận thêm các chất chống oxy hóa quý giá như lutein và zeaxanthin [1].
Nhóm đối tượng nên thận trọng
Dù các hạt LDL nở to ít gây xơ vữa hơn, việc nồng độ LDL-C toàn phần tăng vọt vẫn là yếu tố cần theo dõi sát sao ở những người có nguy cơ cao [1]. Nhóm người có tiền sử bệnh tim mạch chuyển hóa, tăng cholesterol máu gia đình, hoặc những người thuộc nhóm phản ứng mạnh bộc lộ rõ rệt chỉ số lipid xấu khi nạp chất béo bão hòa cần hết sức lưu ý [7].
Nghiên cứu trên động vật cho thấy phản ứng tăng vọt LDL-C biểu hiện dữ dội nhất khi cholesterol đi kèm với lượng lớn chất béo bão hòa [5]. Do đó, người bệnh tim mạch không nên chủ quan tự ý tiêu thụ lượng lớn thực phẩm giàu cholesterol khi chưa kiểm tra đáp ứng thực tế của bản thân và chưa có hướng dẫn chuyên môn từ bác sĩ điều trị.
Hướng dẫn áp dụng trong chế độ ăn hàng ngày
Để biết bản thân có thuộc nhóm phản ứng mạnh hay không, cách tiếp cận khoa học nhất là kiểm tra bộ mỡ máu định kỳ trước và sau khi thay đổi thói quen ăn uống. Nếu bạn muốn bổ sung trứng vào thực đơn, hãy duy trì lượng 1-2 quả mỗi ngày trong vòng 3-4 tuần, sau đó làm xét nghiệm lại để xem xét mức độ dịch chuyển của các chỉ số LDL-C và HDL-C [1], [6].
Cách chế biến đóng vai trò mang tính quyết định. Cholesterol trong thực phẩm khi kết hợp cùng chất béo bão hòa (như chiên ngập dầu mỡ động vật, bơ thực vật nhân tạo, nước cốt dừa) sẽ làm tăng chỉ số mỡ máu tiêu cực hơn nhiều so với khi đi kèm chất béo không bão hòa [5]. Nên ưu tiên các phương pháp chế biến lành mạnh như luộc, hấp, chần nước sôi thay vì chiên xào nhiều dầu mỡ. Việc bổ sung nhiều rau xanh, chất xơ tự nhiên trong bữa ăn cũng hỗ trợ kiểm soát hấp thu chất béo tối ưu.
Mỗi cơ thể có một bản thiết kế sinh học riêng biệt quy định cách thức chuyển hóa dưỡng chất [3], [4]. Hiểu rõ bản thân có thuộc nhóm 1/3 phản ứng mạnh với cholesterol thực phẩm hay không sẽ giúp bạn chủ động xây dựng thực đơn khoa học [1]. Thay vì kiêng khem mù quáng hay tiêu thụ quá mức, duy trì chế độ ăn đa dạng và tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa luôn là lựa chọn an toàn nhất cho sức khỏe tim mạch.






