Đun một ấm nước lớn rồi tích trữ trong bình để cả gia đình uống dần suốt nhiều ngày là thói quen quen thuộc của nhiều hộ gia đình Việt. Nhiều người băn khoăn liệu nước để qua đêm hoặc để vài ngày có sinh ra chất độc như lời đồn, hay vẫn hoàn toàn vô trùng như lúc vừa mới sôi.

Câu trả lời ngắn gọn là nước đun sôi để nguội lưu trữ nhiều ngày không còn đảm bảo an toàn, chủ yếu do nguy cơ tái nhiễm vi khuẩn từ môi trường và dụng cụ chứa. Đun sôi giúp diệt vi sinh vật tại thời điểm đun, nhưng nước sau khi nguội hoàn toàn không có khả năng tự bảo vệ trước sự xâm nhập mới của mầm bệnh [1]. Về lo ngại nước biến đổi nitrit qua nhiều ngày, các dữ liệu nghiên cứu vi sinh hộ gia đình hiện có trong bài viết này không ghi nhận hay đánh giá yếu tố hóa học đó, mà xác định mối nguy thực sự nằm ở sự phát triển trở lại của vi khuẩn và màng sinh học trong bình chứa [2].

Vì sao nước đã đun sôi vẫn nhiễm khuẩn trở lại?

Khi đun sôi ở nhiệt độ cao, các vi khuẩn gây bệnh đường ruột có trong nguồn nước bị tiêu diệt. Tuy nhiên, phương pháp đun sôi không để lại bất kỳ chất khử trùng tồn dư nào trong nước để duy trì hiệu quả bảo vệ sau khi nước đã nguội [1].

Ngay khi nước nguội đi và được rót sang các bình chứa, quá trình tái nhiễm khuẩn bắt đầu diễn ra qua từng bước sử dụng [3]. Vi khuẩn từ không khí, bàn tay người thao tác, thành bình chứa chưa được cọ rửa sạch, hoặc từ chính chiếc cốc, chiếc gáo dùng để múc nước sẽ xâm nhập vào bình [4].

Nếu gia đình liên tục châm thêm nước mới vào bình cũ mà không vệ sinh định kỳ, mặt trong của thành bình sẽ hình thành một lớp màng nhầy vi sinh vật, gọi là màng sinh học (biofilm) [2]. Lớp màng này là nơi trú ngụ của nhiều chủng vi khuẩn khác nhau, từ đó phát tán ngược lại vào phần nước uống hằng ngày [2].

Nghiên cứu nói gì về nước đun sôi và lưu trữ tại nhà?

Nhiều nghiên cứu thực địa tại các hộ gia đình trên thế giới đã chỉ ra rằng việc đun sôi không đảm bảo nước sạch tại thời điểm uống nếu khâu lưu trữ kém vệ sinh [3]. Một nghiên cứu công bố năm 2007 tại 2 cộng đồng ven đô ở Lima (Peru) đã đo lượng vi khuẩn Escherichia coli (E. coli - chỉ dấu của sự nhiễm bẩn từ phân) trong nước máy đầu nguồn, nước lưu trữ nấu ăn, nước đun sôi để nguội lưu trữ và nước rót ra cốc uống [3]. Dù nước máy đầu nguồn hoàn toàn sạch về mặt vi sinh, 26 trên 93 mẫu (chiếm 28%) nước tích trữ để nấu ăn đã bị nhiễm bẩn [3]. Đáng chú ý, 27 trên 91 mẫu (chiếm 30%) nước đun sôi để nguội đang lưu trữ phát triển vi khuẩn E. coli [3]. Nước đun sôi khi rót ra cốc uống còn bị nhiễm khuẩn thường xuyên hơn cả khi đang nằm trong bình chứa [3].

Một nghiên cứu kéo dài 6 tuần công bố năm 2011 tại vùng ven đô Zambia trên 49 hộ gia đình không có đường ống dẫn nước tại nhà cũng cho thấy kết quả tương tự [1]. Các hộ này đều tự báo cáo là "luôn luôn" hoặc "gần như luôn luôn" đun sôi nước trước khi uống [1]. Tuy nhiên, kiểm tra hàng tuần đối với nhóm vi khuẩn coliform chịu nhiệt (TTC - một chỉ dấu nhiễm phân) cho thấy nước uống lấy tại hộ gia đình có chất lượng vi sinh tệ hơn cả nước tại nguồn [1]. Cụ thể, trung bình nhân mật độ khuẩn ở nước uống tại nhà là 7,2 TTC/100 mL, cao hơn mức 4,0 TTC/100 mL của nước nguồn [1]. Thực tế chỉ có 60% mẫu nước tại thời điểm thu thập là thực sự đã được đun sôi, nhưng ngay cả những mẫu đã đun sôi này cũng không có chất lượng vi sinh cao hơn do bị tái nhiễm bẩn trong quá trình bảo quản và múc nước [1]. Ngoài ra, chi phí nhiên liệu hoặc tiền điện để đun nước ước tính chiếm lần lượt 5% và 7% thu nhập của các hộ này [1].

Năm 2015, một nghiên cứu đánh giá rủi ro vi sinh định lượng tại hai cộng đồng ven đô ở Phnom Penh (Campuchia) đã xem xét thói quen dùng nước mưa và nước bồn được lọc rồi đun sôi [5]. Nước sau khi đun được người dân chứa trong ấm, xô hoặc thùng giữ nhiệt, xô có vòi, hoặc chai 500 mL [5]. Kết quả cho thấy thói quen bảo quản kém phổ biến đã làm mất đi lợi ích giảm thiểu rủi ro tiêu chảy mà việc đun sôi mang lại [5].

Thời gian lưu trữ và dụng cụ múc nước tác động thế nào?

Thời gian tích trữ nước càng kéo dài, nguy cơ vi sinh vật nhân lên càng rõ rệt. Một nghiên cứu năm 2004 tại một thị trấn ở miền nam Ấn Độ theo dõi nguồn nước máy trong quá trình lưu trữ tại gia đình từ 1 đến 9 ngày [6]. Kết quả cho thấy toàn bộ mẫu nước máy vừa bơm lên đã có sẵn tạp nhiễm, và khi đem tích trữ tại nhà, 25 trên 37 mẫu (chiếm 67%) gia tăng mức độ nhiễm khuẩn trong khoảng thời gian từ 1 đến 9 ngày [6]. Đáng chú ý, việc lưu trữ nước trong bình bằng đồng thau làm giảm đáng kể sự nhiễm khuẩn so với các vật liệu khác, điều này đã được xác nhận lại trong phòng thí nghiệm khi thử nghiệm cấy từ $10^3$ đến $10^5$ vi khuẩn E. coli trên mỗi 100 mL nước [6].

Để làm rõ mốc thời gian an toàn, một nghiên cứu công bố năm 2019 tại vùng nông thôn Cameroon đã sử dụng phương pháp nuôi cấy kết hợp giải trình tự gen (metagenomic) để so sánh nước vòi công cộng và nước lưu trữ tại nhà [2]. Khi đánh giá các yếu tố như loại bình, bình đậy kín hay mở nắp, số ngày tích trữ và việc cọ rửa bình vào ngày cuối sử dụng, các nhà khoa học nhận thấy số ngày lưu trữ nước tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê: rủi ro sức khỏe tiềm ẩn tăng lên khi nước được lưu trữ quá 3 ngày [2].

Phân tích sâu hơn lớp màng sinh học (biofilm) bám trong bình chứa tại Cameroon, nhóm nghiên cứu phát hiện mật độ chỉ dấu vi khuẩn phân ở mức phân tử trong lớp màng nhầy cao hơn trong nước [2]. Các ngành vi khuẩn chiếm ưu thế nhất ở cả nước và màng sinh học là Proteobacteria, tiếp theo là Actinobacteria và Bacteroidetes [2]. Nhiều chi vi khuẩn như Pseudomonas, Acinetobacter, Comamonas, Chryseobacterium, Stenotrophomonas và Corynebacterium xuất hiện trong màng nhầy nhiều hơn trong nước [2]. Đặc biệt, các mầm bệnh tiềm ẩn cho người như Acinetobacter baumannii, Citrobacter freundii, Stenotrophomonas maltophilia và Haemophilus influenza đã được tìm thấy trong cả nước uống và màng sinh học do người dân dùng đi dùng lại một bình chứa mà không khử trùng đúng cách [2].

Bên cạnh thời gian, thao tác lấy nước hàng ngày là con đường trực tiếp đưa vi khuẩn vào bình. Một nghiên cứu năm 2013 tại Bagamoyo (Tanzania) thông qua đo lường chất lượng nước và quan sát trực tiếp đã chứng minh lượng vi khuẩn chỉ điểm phân tăng lên ngay sau khi đổ đầy bình tại nguồn và sau khi lấy nước ra khỏi bình ở nhà [4]. Việc chắt nước trực tiếp từ bình hoặc dùng cốc, gáo múc nước đều làm tăng lượng vi khuẩn một cách rõ rệt [4]. Thậm chí, các gen gây bệnh của vi khuẩn E. coli đã được phát hiện trong nước tích trữ tại nhà dù không hề có mặt ở nguồn nước ban đầu [4].

Tuy nhiên, một nghiên cứu năm 2019 tại vùng nông thôn Bangladesh về các giếng khoan sâu lại lưu ý rằng không phải lúc nào cũng có mối liên hệ tuyến tính đơn giản giữa thời gian lưu trữ và tỷ lệ nhiễm khuẩn [7]. Dù các hộ phải đi lấy nước xa hơn 100 mét có thời gian tích trữ nước lâu hơn và tỷ lệ nhiễm khuẩn cao hơn, chất lượng nước tại điểm uống còn chịu tác động cộng dồn của nhiều yếu tố khác như thiết kế bình chứa, cách cọ rửa, thể tích bình, nhiệt độ bảo quản, điều kiện vệ sinh quanh nhà và thói quen rửa tay [7].

Thiết kế bình chứa và thói quen vệ sinh quyết định độ an toàn

Gần đây nhất, một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2025 tại quận Kitwe (Zambia) đã khảo sát 215 hộ gia đình và phân tích vi sinh 44 mẫu nước tại điểm sử dụng cùng 16 mẫu nước nguồn trong mỗi mùa (mùa khô và mùa mưa) [8]. Tỷ lệ nhiễm khuẩn E. coli trong nước uống hộ gia đình lên tới 61,3% vào mùa khô và tăng lên 77,3% vào mùa mưa [8].

Qua phân tích hồi quy đa biến, nghiên cứu năm 2025 này chỉ ra các yếu tố bảo vệ rõ rệt giúp giảm nguy cơ nhiễm E. coli [8]. Cụ thể, những hộ gia đình sử dụng bình chứa miệng hẹp giảm mạnh nguy cơ nhiễm khuẩn (tỷ số chênh hiệu chỉnh AOR = 0,090) so với bình miệng rộng [8]. Việc đậy kín nắp bình chứa (AOR = 0,113) và có áp dụng biện pháp xử lý nước (AOR = 0,120) cũng làm giảm đáng kể rủi ro nhiễm E. coli [8]. Ngoài ra, thu nhập hàng tháng, trình độ học vấn, quy mô gia đình, cách lấy nước và thói quen rửa tay bằng xà phòng đều có mối liên hệ chặt chẽ với chất lượng nước uống cuối cùng [8].

Lợi ích, giới hạn của bằng chứng và những hiểu lầm thường gặp

Các bằng chứng khoa học trên cho thấy lợi ích của việc đun sôi nước là không thể phủ nhận trong việc tiêu diệt mầm bệnh ban đầu, được xem là tiêu chuẩn đối chiếu cho các phương pháp xử lý nước tại nhà [1]. Tuy nhiên, giới hạn lớn của các nghiên cứu hiện tại là đều được thực hiện ở các khu vực nông thôn hoặc ven đô tại các quốc gia đang phát triển (như Peru, Zambia, Campuchia, Tanzania, Ấn Độ, Bangladesh, Cameroon), nơi điều kiện hạ tầng cấp nước và vệ sinh còn nhiều hạn chế [3][1][5][4][6][7][2][8]. Dù vậy, cơ chế sinh học của sự tái nhiễm khuẩn qua dụng cụ chứa và màng sinh học vẫn hoàn toàn có giá trị tham khảo cho mọi hộ gia đình.

Một hiểu lầm rất phổ biến là "nước đã đun sôi thì để bao lâu cũng vô trùng". Thực tế, nước đun sôi để trong bình hở nắp hoặc múc bằng cốc bẩn đôi khi còn nhiễm khuẩn nặng hơn cả nước chưa đun tại nguồn [1]. Một hiểu lầm khác là chỉ cần tráng qua bình bằng nước lã hoặc đổ nối tiếp nước mới đun vào bình cũ đang còn thừa nước. Thói quen này tạo điều kiện cho lớp màng sinh học (biofilm) tích tụ ngày càng dày ở đáy và thành bình, nuôi dưỡng các vi khuẩn có hại như Pseudomonas hay Acinetobacter [2]. Về tin đồn nước để lâu sinh ra chất hóa học nitrit gây hại, các nghiên cứu vi sinh học trong phạm vi bài viết không đề cập đến hiện tượng này; mối nguy thực tế đã được chứng minh là vi khuẩn đường ruột và mầm bệnh cơ hội [3][2].

Ai nên đặc biệt thận trọng?

Nước đun sôi để nguội bị tái nhiễm vi khuẩn E. coli hoặc các mầm bệnh từ màng sinh học có thể dẫn đến các bệnh nhiễm trùng đường ruột và tiêu chảy [5][6]. Mọi thành viên trong gia đình đều có thể bị ảnh hưởng nếu uống phải nguồn nước nhiễm khuẩn tại thời điểm tiêu thụ [3].

Những nhóm đối tượng có hệ miễn dịch hoặc hệ tiêu hóa nhạy cảm cần đặc biệt thận trọng, bao gồm trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và những người đang có bệnh lý nền mạn tính hoặc suy giảm miễn dịch. Khi có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc điều trị, người bệnh nên hỏi ý kiến bác sĩ về chế độ dinh dưỡng và tiêu chuẩn an toàn của nguồn nước uống hằng ngày, đặc biệt khi pha sữa hoặc uống thuốc, tuyệt đối không dùng nước đã lưu trữ qua nhiều ngày.

Cách áp dụng thực tế để uống nước đun sôi an toàn

Để giữ trọn vẹn lợi ích của việc đun sôi nước và ngăn chặn quá trình tái nhiễm khuẩn, các gia đình có thể áp dụng ngay những nguyên tắc thực tế rút ra từ nghiên cứu:

  • Thời gian lưu trữ: Chỉ nên đun lượng nước vừa đủ dùng trong ngày hoặc tối đa từ 1 đến 2 ngày, tránh lưu trữ và uống nước đã để quá 3 ngày vì lúc này rủi ro vi sinh tăng cao [2].
  • Lựa chọn bình chứa: Ưu tiên dùng bình có thiết kế miệng hẹp để hạn chế bụi bẩn và bàn tay tiếp xúc với nước bên trong [8]. Luôn đậy kín nắp bình sau mỗi lần sử dụng [8]. Nếu dùng bình lớn, nên chọn loại có vòi vặn thay vì bình miệng rộng phải mở nắp [5]. Có thể cân nhắc chất liệu đồng thau nếu phù hợp điều kiện gia đình do đặc tính ức chế vi khuẩn đã được ghi nhận [6].
  • Cách lấy nước: Tuyệt đối không dùng cốc uống nước hoặc gáo để nhúng trực tiếp vào bình chứa nước chung [4]. Nên rót nước từ ấm, bình miệng hẹp hoặc lấy qua vòi [5][8]. Cốc uống nước cá nhân cần được rửa sạch và úp khô ráo vì khâu rót ra cốc là lúc dễ nhiễm khuẩn nhất [3].
  • Vệ sinh bình định kỳ: Không đổ chồng nước mới đun vào bình còn nước cũ. Sau mỗi đợt dùng hết nước (tối đa vài ngày), cần cọ rửa kỹ mặt trong của bình bằng chất tẩy rửa và nước sạch, sau đó để khô nhằm phá hủy lớp màng sinh học (biofilm) trước khi tích trữ mẻ nước mới [2]. Luôn rửa tay bằng xà phòng trước khi thao tác với bình nước và dụng cụ uống [8].

Tóm lại, nước đun sôi để nguội hoàn toàn tốt cho sức khỏe nếu được dùng sớm và bảo quản đúng cách. Thay vì đun một lần dùng cho cả tuần, việc đun lượng nước vừa đủ trong ngày, đậy kín trong bình miệng hẹp và cọ rửa bình thường xuyên sẽ giúp gia đình bạn phòng tránh hiệu quả nguy cơ nhiễm khuẩn đường ruột.