Nhiều gia đình cùng ăn chung một mâm cơm, nêm nếm cùng lượng gia vị nhưng có người bị tăng huyết áp, người khác lại hoàn toàn bình thường. Thực tế này khiến không ít người băn khoăn liệu muối có thực sự là thủ phạm gây bệnh tim mạch hay không.

Câu trả lời nằm ở hiện tượng "nhạy cảm với muối" (salt sensitivity) của cơ thể [1]. Huyết áp của mỗi người phản ứng rất khác nhau trước lượng muối tiêu thụ: có nhóm ăn mặn là huyết áp tăng vọt (nhạy cảm với muối), nhưng cũng có nhóm chỉ số huyết áp gần như trơ lỳ trước sự thay đổi của natri (kháng muối) [1], [2].

Cơ chế sinh học đằng sau tính nhạy cảm với muối

Tăng huyết áp nhạy cảm với muối được coi là một kiểu hình di truyền trung gian của bệnh tăng huyết áp vô căn [3]. Ở người bình thường, khi lượng muối nạp vào tăng lên, thận và hệ nội tiết sẽ tự điều chỉnh để đào thải bớt natri ra nước tiểu nhằm duy trì áp lực máu ổn định [1], [4].

Tuy nhiên, ở người nhạy cảm với muối, cơ chế cân bằng thể dịch này hoạt động kém hiệu quả [1]. Sự thay đổi hoạt tính của hệ renin-angiotensin (RAS), rối loạn chất vận chuyển ion màng tế bào như trao đổi natri-lithi, hoặc suy giảm đáp ứng của các hormone điều hòa thể tích như yếu tố lợi niệu tâm nhĩ (ANP) khiến cơ thể giữ muối và nước [1], [5].

Hậu quả là lòng mạch phải chịu áp lực lớn hơn khi thể tích dịch tuần hoàn mở rộng đột ngột [4]. Bên cạnh đó, tình trạng tăng insulin huyết tương lúc đói và nồng độ noradrenalin cũng là những yếu tố liên quan mật thiết đến sự dao động huyết áp theo lượng muối nạp vào cơ thể [4], [5].

Bằng chứng lâm sàng: Phản ứng huyết áp phân hóa rõ rệt

Sự phân hóa giữa người nhạy cảm và người kháng muối đã được ghi nhận trong nhiều can thiệp y khoa chuẩn hóa [4], [2]. Nghiên cứu năm 1997 trên 108 bệnh nhân tăng huyết áp đã tiến hành phân loại và theo dõi chế độ ăn của 9 người nhạy cảm muối cùng 9 người kháng muối qua hai giai đoạn: ăn muối bình thường (200 mmol/ngày) và ăn nhạt (50 mmol/ngày) [2].

Kết quả cho thấy, khi chuyển sang ăn nhạt, nhóm nhạy cảm muối giảm mạnh huyết áp tâm thu tới 12 mmHg và huyết áp tâm trương 7 mmHg [2]. Ngược lại, nhóm kháng muối gần như không có sự thay đổi đáng kể, chỉ giảm nhẹ 2 mmHg ở cả hai chỉ số [2]. Sự tương quan giữa thay đổi lượng natri bài tiết qua nước tiểu và mức giảm huyết áp chỉ xuất hiện rõ ở nhóm nhạy cảm muối [2].

Tiếp đó, thử nghiệm đa trung tâm năm 2000 tại Ý trên 94 bệnh nhân tăng huyết áp vô căn bằng nghiệm pháp truyền dịch muối mặn nhanh cũng xác nhận phản ứng huyết áp phân bố theo đường cong hình chuông (Gaussian) [4]. Mức tăng huyết áp khi truyền dung dịch muối sinh lý, lượng natri niệu 24 giờ và mức insulin nền cùng nhau giải thích tới 61% sự biến thiên của độ nhạy cảm muối [4]. Nghiệm pháp này lặp lại trên 19 bệnh nhân đạt độ tương quan r = 0,60 (p < 0,01), chứng minh đây là đặc tính sinh học nhất quán [4].

Tại Nhật Bản, nghiên cứu năm 2002 trên 8 tình nguyện viên khỏe mạnh và 82 người chưa từng dùng thuốc hạ áp đã dùng phác đồ ngoại trú: bổ sung 140 mEq NaCl/ngày trong 1 tuần, sau đó dùng 25 mg hydrochlorothiazide mỗi ngày trong 1 tuần tiếp theo [5]. Độ biến thiên huyết áp trung bình tương quan thuận với hoạt tính renin huyết tương khi nạp muối (r = 0,52) và tương quan nghịch với sự thay đổi ANP (r = -0,34) [5].

Yếu tố tuổi tác, giới tính và chủng tộc

Độ tuổi là một trong những yếu tố lớn quyết định phản ứng của huyết áp với muối [6], [5]. Phân tích trên 82 đối tượng người Nhật cho thấy tuổi tác, hoạt tính renin, ANP và noradrenalin là các yếu tố dự báo có ý nghĩa, giải thích 46% mức độ biến động huyết áp khi thay đổi lượng muối [5]. Nghiên cứu năm 2023 trên 730 bệnh nhân tăng huyết áp vô căn cũng xác định tuổi từ 55 trở lên là yếu tố nguy cơ tim mạch độc lập kết hợp cùng tính nhạy cảm với muối (p < 0,05) [6].

Về giới tính, nghiên cứu năm 2013 theo dõi dữ liệu đo huyết áp lưu động 24 giờ của 2.064 bệnh nhân chưa điều trị cho thấy nguy cơ nhạy cảm muối cao xuất hiện ở phụ nữ (16%) nhiều hơn nam giới (10%) [7]. Tuy nhiên, phân tích tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân trong 20 năm lại chỉ ra mối liên hệ có ý nghĩa thống kê ở nam giới có nguy cơ nhạy cảm muối cao (tỷ số nguy hại hiệu chỉnh 1,96; khoảng tin cậy 95%: 1,07 - 3,62), trong khi không thấy sự gia tăng rõ rệt ở nữ giới (1,02; khoảng tin cậy 95%: 0,51 - 2,07) [7].

Về chủng tộc, thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi đa trung tâm năm 1998 trên 391 bệnh nhân nhạy cảm muối (gồm 96 người da đen, 63 người gốc Tây Ban Nha và 232 người da trắng) đã so sánh thuốc hạ áp enalapril và isradipine [8]. Nghiên cứu ghi nhận khi ăn mặn (natri niệu 314,7 ± 107,5 mmol/ngày), bệnh nhân da đen kiểm soát huyết áp bằng thuốc chẹn kênh canxi isradipine tốt hơn nhóm dùng thuốc ức chế men chuyển enalapril, trong khi ở người da trắng và gốc Tây Ban Nha không thấy sự khác biệt này [8]. Khi chuyển về chế độ ăn nhạt (natri niệu 90,1 ± 50,8 mmol/ngày), cả ba nhóm chủng tộc đều đạt mức huyết áp kiểm soát tương đương nhau giữa hai loại thuốc [8]. Mức chênh lệch huyết áp giữa lúc ăn mặn và ăn nhạt ở nhóm dùng isradipine thấp hơn nhóm enalapril ở cả ba sắc tộc [8].

Mối liên hệ với nguy cơ tim mạch và biến thiên huyết áp

Người có cơ địa nhạy cảm với muối không chỉ đối mặt với nguy cơ huyết áp tăng cao mà còn gặp tình trạng huyết áp dao động thất thường [6], [7]. Theo dữ liệu năm 2023 trên 730 bệnh nhân, mức độ nhạy cảm muối tương quan thuận với độ lệch chuẩn huyết áp tâm thu ban đêm, độ lệch chuẩn huyết áp tâm thu 24 giờ và hệ số biến thiên huyết áp tâm thu 24 giờ [6].

Mô hình dự báo cho thấy độ lệch chuẩn huyết áp tâm thu ban đêm từ 14 mmHg trở lên, độ lệch chuẩn 24 giờ từ 20 mmHg trở lên và hệ số biến thiên từ 13,5% trở lên là những yếu tố độc lập dự báo biến cố tim mạch (diện tích dưới đường cong ROC đạt 0,837) [6]. Việc huyết áp không giảm sâu vào ban đêm (mất trũng huyết áp) thường đi kèm với nhạy cảm muối và làm tăng gánh nặng lên thành mạch [6], [7].

Một phân tích tổng hợp mạng năm 2018 trên 25 nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng, đối với bệnh nhân tăng huyết áp nhạy cảm muối không có bệnh kèm theo, việc dùng thuốc chẹn kênh canxi (CCB) kết hợp hydrochlorothiazide và duy trì lượng muối vừa phải mang lại hiệu quả hạ áp tối ưu so với giả dược (chênh lệch trung bình chuẩn hóa SMD: 26,66) và vượt trội so với thuốc chẹn thụ thể ARB [3]. Với bệnh nhân béo phì có nhạy cảm muối, phối hợp CCB cùng metformin và ăn muối vừa phải giúp giảm 17,90 mmHg [3].

Giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện nay

Mặc dù tính nhạy cảm với muối là hiện tượng có thật, việc xác định chính xác ai thuộc nhóm này trong thăm khám lâm sàng thông thường vẫn gặp nhiều trở ngại [1], [5]. Hiện nay, thử nghiệm thay đổi chế độ ăn có kiểm soát vẫn là phương pháp chắc chắn nhất để định danh cá nhân có đáp ứng hay không, nhưng cách làm này tốn nhiều công sức và khó duy trì diện rộng [1], [5].

Các phương pháp thay thế như nghiệm pháp truyền và rút dịch muối nhanh hay phác đồ uống muối kết hợp thuốc lợi tiểu ngoại trú 2 tuần tuy có độ tương quan khả quan (r = 0,69) nhưng đa phần mới được thử nghiệm trên các cỡ mẫu nhỏ (từ 8 đến hơn 100 người) [4], [5], [2].

Ngoài ra, việc đưa ra khuyến cáo cắt giảm muối triệt để cho toàn bộ dân số vẫn là chủ đề cần thêm các thử nghiệm lâm sàng dài hạn, bởi việc giảm natri quá mức có thể gây ra những hệ quả không mong muốn ở một số nhóm đối tượng nhất định [1].

Hiểu lầm thường gặp về muối và huyết áp

Nhiều người tin rằng chỉ những ai đã bị bệnh tăng huyết áp mới có phản ứng nhạy cảm với muối. Thực tế, ngay cả ở những người khỏe mạnh có huyết áp bình thường, phản ứng huyết áp trước việc giảm muối cũng có sự biến thiên rất lớn [1].

Một quan niệm sai lầm khác là cho rằng ăn mặn thì dùng thuốc huyết áp nào cũng đạt kết quả như nhau. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh hiệu quả của các nhóm thuốc hạ áp chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi lượng muối nạp vào và chủng tộc của người bệnh [8]. Điển hình là khi duy trì chế độ ăn nhiều muối, người bệnh da đen đáp ứng với thuốc chẹn kênh canxi tốt hơn thuốc ức chế men chuyển [8].

Bên cạnh đó, việc người kháng muối chủ quan ăn mặn thả ga cũng là một sai lầm. Tính nhạy cảm muối có thể thay đổi theo tuổi tác, sự suy giảm chức năng thận và các chỉ số chuyển hóa theo thời gian [4], [5].

Nhóm người cần đặc biệt thận trọng với muối

Dựa trên các nghiên cứu lâm sàng, những nhóm đối tượng sau đây cần đặc biệt lưu tâm đến phản ứng của cơ thể với lượng muối ăn:

  • Người từ 55 tuổi trở lên hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch [6], [5].
  • Người có chỉ số huyết áp dao động lớn giữa ngày và đêm, huyết áp tâm thu ban đêm không hạ sâu hoặc nhịp tim 24 giờ trên 70 nhịp/phút [6], [7].
  • Người có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao, thừa cân béo phì hoặc có tình trạng tăng insulin máu [4], [3], [7].
  • Bệnh nhân tăng huyết áp vô căn đang điều trị thuốc, đặc biệt là nhóm người bệnh cần theo dõi đáp ứng điều trị theo sắc tộc và phác đồ dùng thuốc riêng biệt [3], [8].

Đối với phụ nữ mang thai, trẻ em hoặc người mắc các bệnh lý thận mạn giai đoạn tiến triển, các trích đoạn nghiên cứu trên chưa có dữ liệu khảo sát trực tiếp; do đó nhóm đối tượng này không nên tự ý áp dụng chế độ kiêng khem ngặt nghèo mà cần tuân thủ hướng dẫn riêng từ bác sĩ điều trị.

Hướng dẫn áp dụng trong sinh hoạt hằng ngày

Việc xác định bản thân nhạy cảm hay kháng muối tại nhà là không khả thi nếu không có các can thiệp chuyên khoa [1], [5]. Tuy nhiên, việc duy trì một chế độ ăn với lượng muối vừa phải được chứng minh là an toàn và hỗ trợ tốt cho việc kiểm soát huyết áp ở đa số đối tượng [3], [8].

  • Theo dõi chỉ số huyết áp: Nên sử dụng máy đo huyết áp tại nhà hoặc đo huyết áp lưu động 24 giờ theo chỉ định để phát hiện sớm các bất thường về dao động huyết áp [6], [7].
  • Điều chỉnh gia vị hợp lý: Người có dấu hiệu tăng huyết áp nên trao đổi với chuyên gia dinh dưỡng để điều chỉnh mức muối nạp vào phù hợp, tránh tâm lý cắt giảm cực đoan về 0 gây rối loạn điện giải [1].
  • Phối hợp thuốc theo hướng dẫn bác sĩ: Không tự ý đổi thuốc điều trị huyết áp khi thấy chỉ số chưa cải thiện; việc phối hợp thuốc hạ áp như chẹn kênh canxi hay lợi tiểu cần có sự đánh giá lâm sàng từ bác sĩ chuyên khoa [3], [8].
  • Kiểm soát cân nặng: Giảm cân và cải thiện độ nhạy insulin giúp giảm bớt gánh nặng biến thiên huyết áp do muối gây ra [4], [3], [7].

Sự khác biệt trong phản ứng với muối ăn là do yếu tố cơ địa, gen di truyền, tuổi tác và nội tiết của từng cá thể [1], [5]. Dù thuộc nhóm nhạy cảm hay kháng muối, việc duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng, lượng muối vừa phải và chủ động tham khảo ý kiến bác sĩ luôn là giải pháp bền vững để bảo vệ sức khỏe tim mạch.