Nhiều người tìm đến các sản phẩm bổ sung magie nhằm hỗ trợ giấc ngủ, giảm căng thẳng cơ bắp hoặc cải thiện sức khỏe thần kinh. Tuy nhiên, không ít trường hợp gặp phải tình trạng khó chịu ngay sau vài lần sử dụng: bụng sôi cồn cào, quặn thắt và nhanh chóng bị tiêu chảy.

Hiện tượng uống magie bị tiêu chảy không phải phản ứng dị ứng bất thường, mà là hệ quả trực tiếp từ cơ chế thẩm thấu của muối magie kém hấp thu trong lòng ruột [5, 8]. Khi dùng sai dạng muối magie hoặc dùng liều quá cao, lượng magie dư thừa sẽ giữ nước và kích thích bài tiết dịch ruột ồ ạt, dẫn tới phân lỏng [1, 8].

Cơ chế thẩm thấu kéo nước vào ruột khi nạp magie

Bình thường, hệ tiêu hóa của con người chỉ hấp thu khoảng 30% đến 50% lượng magie nạp vào cơ thể qua chế độ ăn uống [1]. Mức hấp thu này diễn ra trong vòng 1 đến 6 giờ sau khi uống và tỷ lệ dao động phụ thuộc liều nạp [1]. Khi nạp một liều lớn hoặc sử dụng các dạng muối khó tan, một lượng rất lớn ion magie (Mg2+) không được biểu mô ruột hấp thu [5, 7].

Các chất nhuận tràng thẩm thấu, bao gồm các muối magie khó hấp thu, tạo ra một gradient áp suất thẩm thấu lớn bên trong lòng ruột [2]. Lòng ruột có nồng độ chất hòa tan cao hơn nhiều so với dịch tuần hoàn xung quanh [3]. Hiện tượng này ngăn chặn tái hấp thu nước ở kết tràng và kéo ngược nước cùng các chất điện giải từ các mạch máu biểu mô vào lòng ruột [1, 2, 8].

Khối lượng dịch lòng ruột tăng vọt làm lỏng khối phân, kích thích thành ruột căng giãn và đẩy nhanh nhu động cơ học, gây tiêu chảy cấp tốc [6, 8]. Tác dụng phụ nổi bật nhất của nhóm nhuận tràng thẩm thấu này chính là chướng bụng và tiêu chảy [2].

Vai trò của kênh dẫn nước Aquaporin-3 trong tiêu chảy

Các nghiên cứu cho thấy hiện tượng tiêu chảy do magie không đơn thuần chỉ là áp suất thẩm thấu vật lý đơn thuần [1, 2]. Kênh vận chuyển nước mang tên Aquaporin-3 (AQP3) nằm trên bề mặt tế bào biểu mô đại tràng đóng vai trò then chốt trong quá trình này [1, 2].

Một nghiên cứu công bố năm 2016 trên chuột cho thấy sự gia tăng hàm lượng nước trong phân và mức biểu hiện AQP3 tại kết tràng tăng theo thời gian sau khi dùng muối magie [3]. Bình thường, nước được chuyển từ lòng ruột vào máu qua kênh AQP3 [3]. Sau khi nạp magie, áp suất thẩm thấu tăng làm đảo chiều dòng chảy, vận chuyển lượng lớn nước từ mạch máu đổ vào ruột [3].

Ở mốc 2 giờ đầu, lượng nước chuyển vào ruột chưa cao do mức độ biểu hiện kênh AQP3 chưa tăng đủ [3]. Sau đó, nồng độ ion magie nội bào kích hoạt chuỗi tín hiệu protein kinase A qua phosphoryl hóa CREB, thúc đẩy quá trình phiên mã gen AQP3 [3]. Mức AQP3 gia tăng mạnh mẽ kéo theo lượng lớn nước tràn vào lòng kết tràng, gây ra tiêu chảy [3].

Bên cạnh đó, các dạng muối magie còn tác động lên hệ thống thể dịch và thần kinh ruột [5, 7]. Sự giải phóng oxit nitric (NO) thông qua kích thích enzym NO synthase và các hormone tiêu hóa như cholecystokinin (CCK) hay peptide YY cũng tham gia điều hòa nhu động ruột [5, 6, 7].

Bằng chứng khoa học về tác động của các loại muối magie

Tác động kích thích đi tiêu của các gốc muối magie đã được kiểm chứng rõ rệt trên nhiều mô hình thực nghiệm và nghiên cứu lâm sàng.

Một nghiên cứu năm 2014 đánh giá việc bổ sung muối magie trên heo nái giai đoạn cuối thai kỳ và cho con bú [4]. Thử nghiệm dùng liều 600 mg/kg khẩu phần cho thấy hàm lượng độ ẩm trong phân tăng tuyến tính trong suốt thời kỳ cho con bú, làm giảm số lượng heo bị táo bón nặng so với nhóm đối chứng [4]. Nghiên cứu cũng trích dẫn dữ liệu trên gia cầm khi thử nghiệm ba dạng muối gồm MgCl2, MgSO4 và MgO ở ba mức liều (0,255 g/kg; 1,02 g/kg và 2,04 g/kg), kết quả cho thấy độ ẩm chất thải tăng tuyến tính theo thứ tự MgCl2 > MgSO4 = MgO [4]. Điều này xác nhận magie ức chế sự tái hấp thu nước từ thức ăn thừa trong đường tiêu hóa [4].

Một thử nghiệm lâm sàng năm 2000 thực hiện trên 8 người tình nguyện khỏe mạnh (4 nam, 4 nữ, độ tuổi trung bình 21) [5]. Tình nguyện viên tham gia 4 thử nghiệm chéo gồm: bữa ăn kết hợp muối magie uống hoặc giả dược; và nhịn ăn kết hợp magie hoặc giả dược [5]. Đo áp lực vận động hang vị - tá tràng và thời gian chuyển vận tá tràng - manh tràng cho thấy muối magie làm tăng đáng kể tốc độ chuyển vận thức ăn qua ruột non ở cả trạng thái đói lẫn no [5]. Đồng thời, magie làm tăng khối lượng phân và lượng chất béo bài tiết trong phân suốt 24 giờ ở toàn bộ người tham gia [5].

Một thử nghiệm mù đôi, có đối chứng giả dược năm 2017 tiến hành nghiên cứu nguồn nước khoáng tự nhiên chứa 13 g/L khoáng chất hòa tan giàu ion magie và sunfat [6]. Nghiên cứu ghi nhận muối magie giữ nước tại lòng ruột, làm tăng thể tích phân và kích thích nhu động [6]. Giới hạn của nghiên cứu là công cụ khảo sát chất lượng cuộc sống còn mang tính tổng quát thay vì dùng thang điểm chuyên biệt cho táo bón, đồng thời nhóm dùng liều thấp bị dừng giữa chừng sau khi tuyển được 50% số lượng bệnh nhân dự kiến [6].

Một báo cáo tổng quan năm 2020 ghi nhận tỷ lệ tuân thủ điều trị của nước khoáng giàu magie đạt mức 102% ± 8,6%, với 3 biến cố bất lợi liên quan hoặc có thể liên quan đến điều trị [1]. Dù vậy, bài báo lưu ý các cơ chế tác động nội tiết sâu của ion magie hiện vẫn còn những khía cạnh đang tiếp tục được tranh luận [1].

Phân biệt các loại muối: Magie Citrate, Oxide và nguy cơ tiêu chảy

Việc lựa chọn loại muối liên kết quyết định trực tiếp tới tỷ lệ hấp thu và phản ứng của hệ tiêu hóa. Hai dạng muối thường gây tiêu chảy nhất là magie oxide và magie citrate.

Magie oxide (MgO) là dạng muối vô cơ có hàm lượng magie nguyên tố rất cao nhưng độ tan và sinh khả dụng qua thành ruột lại cực kỳ thấp [4]. Khi vào ống tiêu hóa, phần lớn lượng magie oxide không được hấp thu, tồn tại dưới dạng phân tử tự do trong lòng ruột [2, 5]. Sự hiện diện của lượng lớn ion kém hấp thu này tạo áp suất thẩm thấu mạnh mẽ, hút nước vào phân và gây tiêu chảy [2, 8]. Vì vậy, magie oxide trên lâm sàng chủ yếu dùng làm thuốc nhuận tràng hoặc kháng acid dạ dày chứ không phải lựa chọn tối ưu để bồi hoàn vi chất [5, 8].

Magie citrate là dạng muối hữu cơ kết hợp với acid citric. Khác với oxide, dạng citrate tan nhanh và hấp thu tốt hơn ở liều thấp. Tuy nhiên, khi dùng ở liều trung bình đến cao, lượng muối citrate vượt ngưỡng hấp thu của ruột non sẽ di chuyển xuống đại tràng. Tại đây, đặc tính ưa nước của gốc muối tiếp tục kéo nước theo cơ chế thẩm thấu [2]. Nhờ khả năng tăng áp suất thẩm thấu nhanh và kích thích bài xuất phân hiệu quả, magie citrate thường được ứng dụng y khoa trong các trường hợp làm sạch ruột chuẩn bị nội soi hoặc trị táo bón cấp [7, 8].

Nếu người dùng cần bổ sung khoáng chất lâu dài nhưng lại chọn nhầm magie oxide liều cao hoặc magie citrate, nguy cơ bị rối loạn tiêu hóa và đi ngoài phân lỏng là khó tránh khỏi [5, 8].

Tác động của tiêu chảy thẩm thấu lên hệ vi sinh đường ruột

Nhiều người xem nhẹ việc bị tiêu chảy vài lần do uống magie vì nghĩ rằng chỉ cần ngưng thuốc là đường ruột sẽ bình thường. Tuy nhiên, bằng chứng khoa học cho thấy các cơn xáo trộn thẩm thấu dù nhẹ vẫn để lại hệ lụy sinh học kéo dài [7].

Một nghiên cứu công bố năm 2019 khảo sát tác động của áp suất thẩm thấu do thuốc nhuận tràng lên hệ sinh thái ruột ở chuột thí nghiệm [7]. Kết quả cho thấy stress thẩm thấu gây ra sự suy giảm và tuyệt chủng lặp lại của nhiều nhóm vi khuẩn bản địa chiếm ưu thế, đồng thời tạo điều kiện cho các chủng vi khuẩn kém phổ biến sinh sôi mất kiểm soát [7]. Phân tích hình ảnh ghi nhận lớp rào chắn chất nhầy bảo vệ niêm mạc ruột bị phá hủy nghiêm trọng trong thời gian xảy ra xáo trộn thẩm thấu trước khi có thể tự phục hồi [7].

Bên cạnh tổn thương lớp nhầy, hệ miễn dịch đường ruột cũng phản ứng bằng sự biến động nồng độ cytokine và kích hoạt đáp ứng kháng thể IgG kéo dài chống lại chính các vi khuẩn hội sinh [7]. Nồng độ thẩm thấu tăng cao trực tiếp ức chế sự sinh trưởng của các chủng vi khuẩn có lợi [7]. Điều này cảnh báo rằng việc lạm dụng muối magie gây tiêu chảy kéo dài có thể làm suy yếu hệ vi sinh vật đường ruột [7].

Những ai cần đặc biệt thận trọng khi dùng muối magie?

Người có bệnh lý về chức năng thận cần tuyệt đối cẩn giác trước khi dùng các chế phẩm magie liều cao [8]. Magie sau khi hấp thu được đào thải qua đường tiết niệu; việc dùng liều cao kéo dài có thể làm tích lũy nồng độ magie trong máu, dẫn đến ngộ độc thận và suy giảm chức năng các cơ quan khác [8].

Người mắc các bệnh đường tiêu hóa mạn tính như hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy (IBS-D), viêm loét đại tràng hay bệnh Crohn không nên tự ý dùng muối magie thẩm thấu [4, 8]. Tình trạng tăng tiết dịch lòng ruột sẽ làm trầm trọng thêm các cơn đau thắt bụng và khiến niêm mạc tổn thương nặng hơn [4, 8].

Phụ nữ mang thai hoặc người cao tuổi bị táo bón trước khi dùng muối magie thẩm thấu cần tham vấn nhân viên y tế [2]. Dù các loại thuốc thẩm thấu thường được dùng trong điều trị táo bón, liều lượng cần được kiểm soát chặt chẽ để tránh nguy cơ mất nước và rối loạn điện giải [2].

Cách dùng magie an toàn và hạn chế rối loạn tiêu hóa

Để hạn chế tác dụng phụ gây tiêu chảy, người dùng có thể áp dụng các điều chỉnh thực tế sau:

  • Kiểm tra nhãn sản phẩm: Ưu tiên chọn các dạng muối magie hữu cơ có sinh khả dụng cao như magie glycinate, bisglycinate hoặc malate thay vì magie oxide hay magie sulfate nếu mục đích chỉ là bổ sung dinh dưỡng hàng ngày [2, 5].
  • Chia nhỏ liều lượng: Tỷ lệ hấp thu magie phụ thuộc vào liều nạp [1]. Thay vì uống một liều lớn dồn vào một thời điểm, hãy chia nhỏ thành 2-3 lần uống trong ngày để tránh làm quá tải khả năng hấp thu của ruột non, hạn chế lượng ion tự do trôi xuống đại tràng [5, 7].
  • Uống trong hoặc ngay sau bữa ăn: Sự hiện diện của thức ăn làm chậm tốc độ rỗng của dạ dày và kéo dài thời gian lưu chuyển qua ruột non [5]. Điều này tạo điều kiện cho biểu mô ruột hấp thu vi chất tốt hơn và làm giảm bớt áp suất thẩm thấu đột ngột [3, 8].
  • Theo dõi lượng chất xơ và nước: Chế độ ăn giàu chất xơ không hòa tan có đặc tính giữ nước tự nhiên và hỗ trợ điều hòa phân mà không gây tiêu chảy thẩm thấu ồ ạt [2, 8].

Uống magie bị tiêu chảy là phản ứng sinh lý giải thích được qua cơ chế thẩm thấu kéo nước và kích hoạt kênh dẫn nước AQP3 tại đại tràng [1, 8]. Hiểu rõ đặc tính của từng loại muối magie giúp người dùng lựa chọn đúng sản phẩm phù hợp thể trạng, tránh lạm dụng liều cao gây tổn thương hệ vi sinh vật và luôn nhớ tham khảo ý kiến bác sĩ khi có bệnh nền [4, 5].