Nhiều người cao tuổi thường tìm đến các viên uống vitamin C liều cao với mong muốn làm chậm quá trình lão hóa mắt và tránh phải phẫu thuật đục thủy tinh thể. Thói quen sử dụng viên sủi hoặc viên nén nồng độ cao mỗi ngày được lan truyền như một giải pháp bảo vệ thị lực tiện lợi.

Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học thực tế lại cho thấy bức tranh phức tạp và nhiều mâu thuẫn. Việc tự ý bổ sung vitamin C liều cao qua viên nén đơn lẻ không những không mang lại hiệu quả bảo vệ rõ ràng mà ở một số nhóm người cao tuổi, nó còn liên quan đến sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh đục thủy tinh thể.

Căng thẳng oxy hóa và thủy tinh thể của mắt

Thủy tinh thể hoạt động như một thấu kính trong suốt giúp hội tụ ánh sáng lên võng mạc. Quá trình lão hóa tự nhiên cùng sự tác động của ánh sáng mặt trời tạo ra các gốc tự do, gây tổn thương protein trong thể thủy tinh và dẫn đến hiện tượng mờ đục.

Vitamin C (axit ascorbic) là một chất chống oxy hóa tự nhiên hiện diện với nồng độ cao trong dịch kính và thủy tinh thể. Về mặt lý thuyết sinh học, nồng độ vitamin C đầy đủ giúp trung hòa gốc tự do và duy trì độ trong suốt của mắt. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng việc bổ sung vitamin C liều cao có thể gây ra những tác động bất lợi đối với bệnh đục thủy tinh thể do tuổi tác [1]. Khi nạp một lượng lớn dạng đơn chất tổng hợp, sự cân bằng sinh hóa tại mô mắt có thể bị thay đổi.

Bằng chứng trái chiều: Viên uống liều cao làm tăng nguy cơ?

Nhiều nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn tại châu Âu đã ghi nhận những kết quả bất ngờ về việc uống vitamin C liều cao.

Một nghiên cứu thuần tập tiến cứu tại Thụy Điển công bố năm 2010 đã theo dõi 24.593 phụ nữ trong độ tuổi từ 49 đến 83 tuổi thuộc Đoàn hệ chụp X-quang tuyến vú Thụy Điển từ tháng 9/1997 đến tháng 10/2005 [1]. Qua 8,2 năm theo dõi (tương đương 184.698 người-năm), các nhà khoa học xác định được 2.497 trường hợp phải phẫu thuật lấy thủy tinh thể đục [1]. Kết quả phân tích đa biến cho thấy người sử dụng viên bổ sung vitamin C liều cao (khoảng 1000 mg) có nguy cơ phẫu thuật đục thủy tinh thể cao hơn 25% so với người không dùng (HR = 1,25; 95% CI: 1,05-1,50) [1].

Mức tăng nguy cơ đục thủy tinh thể ở nhóm phụ nữ dùng vitamin C liều cao trên 10 năm trước thời điểm bắt đầu nghiên cứu đạt tỷ lệ nguy cơ HR là 1,46 (95% CI: 0,93-2,31) [1]. Đáng chú ý, ở phụ nữ từ 65 tuổi trở lên, việc dùng viên vitamin C làm tăng nguy cơ đục thủy tinh thể thêm 38% (95% CI: 12%-69%) [1]. Nguy cơ này tăng lên 56% ở những người dùng liệu pháp thay thế hormone (95% CI: 20%-102%) và tăng vọt ở nhóm dùng corticosteroid với tỷ lệ HR là 1,97 (95% CI: 1,35-2,88) [1]. Trong khi đó, việc dùng viên đa vi chất chứa vitamin C liều thấp (khoảng 60 mg) không cho thấy sự gia tăng nguy cơ có ý nghĩa thống kê (HR = 1,09; 95% CI: 0,94-1,25) [1].

Một nghiên cứu thuần tập tiến cứu khác thực hiện trên 31.120 nam giới Thụy Điển từ 45 đến 79 tuổi công bố năm 2013 cũng đưa ra cảnh báo tương tự [2]. Trong giai đoạn theo dõi từ năm 1998 đến năm 2006, có 2.963 ca mắc đục thủy tinh thể mới được ghi nhận [2]. Nam giới chỉ sử dụng viên bổ sung vitamin C có tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh là 1,21 (95% CI: 1,04-1,41) so với người không dùng [2].

Đối với những người dùng vitamin C kéo dài từ 10 năm trở lên, tỷ lệ nguy cơ mắc đục thủy tinh thể là 1,36 (95% CI: 1,02-1,81) [2]. Mối liên quan này càng trở nên mạnh mẽ hơn ở nhóm nam giới trên 65 tuổi với tỷ lệ nguy cơ là 1,92 (95% CI: 1,41-2,60) và nhóm đang sử dụng corticosteroid với tỷ lệ nguy cơ lên tới 2,11 (95% CI: 1,48-3,02) [2]. Nghiên cứu cũng chỉ ra việc dùng riêng vitamin E làm tăng nguy cơ với HR là 1,59 (95% CI: 1,12-2,26), trong khi việc dùng vitamin tổng hợp liều thấp không liên quan đến nguy cơ đục thủy tinh thể [2]. Kết luận từ các tác giả nhấn mạnh việc dùng đơn chất vitamin C hoặc E liều cao có thể làm tăng nguy cơ đục thủy tinh thể do tuổi tác [2].

Nghiên cứu cho thấy tác dụng trung tính hoặc bảo vệ có điều kiện

Bên cạnh các phát hiện về nguy cơ, các nghiên cứu tại Mỹ lại đưa ra những con số khác biệt, dao động từ không có hiệu quả đến giảm nhẹ nguy cơ ở một số phân nhóm nhất định.

Một nghiên cứu tiến cứu công bố năm 1999 theo dõi 47.152 nữ y tá từ 45 tuổi trở lên bắt đầu từ năm 1980, sau đó mở rộng theo dõi tổng cộng 73.956 phụ nữ trong 12 năm với 720.082 năm theo dõi [3]. Trong thời gian này, có 1.377 trường hợp được chẩn đoán và phẫu thuật đục thủy tinh thể [3]. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố như hút thuốc, chỉ số BMI và bệnh tiểu đường, việc sử dụng viên bổ sung vitamin C từ 10 năm trở lên cho thấy nguy cơ tương đối RR là 0,95 (95% CI: 0,76-1,20), nghĩa là không làm giảm đáng kể nguy cơ chung [3]. Mối liên quan chỉ ghi nhận được ở nhóm phụ nữ dùng lâu năm nhưng chưa từng hút thuốc (RR = 0,71; 95% CI: 0,47-1,08) hoặc nhóm dưới 60 tuổi (RR = 0,72; 95% CI: 0,49-1,04) [3].

Trước đó, một nghiên cứu tiến cứu năm 1992 trên 50.828 nữ y tá từ 45 đến 67 tuổi theo dõi trong 8 năm (470.302 người-năm) ghi nhận 493 ca mổ đục thủy tinh thể [4]. Phân tích đa biến cho thấy nguy cơ đục thủy tinh thể giảm 45% ở những phụ nữ sử dụng viên vitamin C từ 10 năm trở lên (RR = 0,55; 95% CI: 0,32-0,96) [4]. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, lượng vitamin C từ thực phẩm tự nhiên không cho thấy mối liên hệ rõ rệt trong mô hình đa biến, trong khi tiêu thụ nhiều rau bina lại giảm nguy cơ một cách nhất quán [4].

Dữ liệu từ Nghiên cứu Mắt Beaver Dam năm 2000 trên 3.089 người từ 43 đến 86 tuổi cho thấy người dùng vitamin tổng hợp hoặc chất bổ sung chứa vitamin C hay E trên 10 năm có nguy cơ đục thủy tinh thể 5 năm thấp hơn 60% so với người không dùng [5]. Cụ thể, việc dùng nhóm chất này trên 10 năm giúp hạ thấp tỷ lệ đục nhân (OR = 0,6; 95% CI: 0,4-0,9) và đục vỏ (OR = 0,4; 95% CI: 0,2-0,8), nhưng không giảm đục dưới bao sau (OR = 0,9; 95% CI: 0,5-1,9) [5]. Tuy vậy, các tác giả lưu ý rằng không thể xác định chính xác dưỡng chất đơn lẻ nào tạo ra lợi ích này và sự khác biệt về lối sống chưa kiểm soát được có thể là nguyên nhân dẫn đến kết quả trên [5].

Nồng độ tự nhiên từ máu và chế độ ăn mang lại lợi ích gì?

Khác với sự mâu thuẫn khi dùng viên uống tổng hợp, dữ liệu nghiên cứu về nồng độ vitamin C tự nhiên đo được trong máu hoặc mức tiêu thụ dinh dưỡng hợp lý lại phản ánh tác động tích cực rõ ràng hơn đối với thể thủy tinh.

Tổng quan công bố năm 2014 về điều hòa dinh dưỡng đối với đục thủy tinh thể trích dẫn nghiên cứu INDEYE trên 1.443 người nông thôn Ấn Độ trên 50 tuổi: nhóm có nồng độ vitamin C trong huyết tương ở mức cao nhất giảm 40% tỷ lệ mắc đục thủy tinh thể vỏ (OR = 0,62; 95% CI: 0,40-0,96) so với nhóm thấp nhất [6]. Một phân tích mở rộng trên 5.638 người cao tuổi Ấn Độ cũng ghi nhận người có nồng độ vitamin C huyết tương cao nhất giảm 35% nguy cơ đục thể thủy tinh vỏ (95% CI: 0,50-0,85) [6].

Cũng trong tài liệu năm 2014, phân tích từ Dự án Thị giác Dinh dưỡng (thuộc Nghiên cứu Sức khỏe Y tá) cho thấy phụ nữ từ 60 tuổi trở xuống tiêu thụ ít nhất 363 mg vitamin C mỗi ngày giảm 57% nguy cơ đục vỏ thể thủy tinh so với người tiêu thụ dưới 140 mg mỗi ngày [6]. Phụ nữ dùng bổ sung trên 10 năm cũng có tỷ lệ mờ đục vỏ thể thủy tinh thấp hơn (OR = 0,40; 95% CI: 0,18-0,87) [6]. Đa số các nghiên cứu quan sát chỉ ra rằng lượng tiêu thụ trên 135 mg/ngày hoặc nồng độ máu đạt 6 micromol/L giúp giảm khoảng 40% nguy cơ đục thủy tinh thể thể nhân [6].

Về tổng thể các chất bổ sung đa vi chất, một tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2014 cho thấy một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) tại Mỹ kéo dài 9 năm không ghi nhận sự sụt giảm có ý nghĩa đối với nguy cơ phẫu thuật đục thủy tinh thể (RR = 0,95; 95% CI: 0,71-1,28) [7]. Dù các nghiên cứu thuần tập ghi nhận bổ sung đa vi chất trên 10 năm giúp ngăn ngừa đục nhân và đục vỏ, thử nghiệm RCT 9 năm chỉ cho thấy xu hướng bảo vệ khiêm tốn ở ranh giới (RR = 0,78; 95% CI: 0,60-1,02) và hoàn toàn không có tác dụng bảo vệ đối với đục dưới bao sau [7].

Hiểu lầm: Càng uống nhiều liều cao mắt càng sáng?

Nhiều người lầm tưởng rằng vitamin C là chất tan trong nước, uống thừa sẽ thải qua nước tiểu nên dùng liều càng cao càng tốt để chống thoái hóa mắt. Đây là quan điểm thiếu cơ sở y khoa.

Sự khác biệt giữa các nghiên cứu cho thấy liều lượng và dạng thức đưa vào cơ thể có vai trò quyết định. Bổ sung dưỡng chất qua thực phẩm tự nhiên mang lại nồng độ sinh lý cân bằng cùng các chất chống oxy hóa đi kèm. Ngược lại, việc dung nạp các viên uống đơn chất liều cao (như mức 1000 mg) trong thời gian dài có thể vượt ngưỡng cân bằng sinh hóa tại mắt, không đem lại khả năng ngăn chặn phẫu thuật và thậm chí làm tăng nguy cơ tổn thương cấu trúc thấu kính ở nhóm người lớn tuổi [1], [2].

Nhóm đối tượng cần thận trọng đặc biệt

Dựa trên dữ liệu từ các nghiên cứu tiến cứu quy mô lớn, việc tự ý bổ sung các viên vitamin C liều cao cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, đặc biệt ở các nhóm sau:

  • Người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên: Dữ liệu cho thấy nguy cơ đục thủy tinh thể tăng 38% ở phụ nữ từ 65 tuổi [1] và tăng 92% ở nam giới trên 65 tuổi khi sử dụng viên bổ sung vitamin C đơn chất [2].
  • Người đang sử dụng corticosteroid: Bổ sung vitamin C ở nhóm này khiến nguy cơ đục thủy tinh thể tăng gấp 1,97 lần ở nữ giới [1] và tăng gấp 2,11 lần ở nam giới [2]. Corticosteroid vốn đã ảnh hưởng đến mắt, việc dùng thêm vitamin C liều cao làm tăng thêm rủi ro tổn thương [1], [2].
  • Phụ nữ đang áp dụng liệu pháp thay thế hormone: Việc kết hợp viên vitamin C làm tăng nguy cơ đục thủy tinh thể thêm 56% so với người không dùng cả hai yếu tố trên [1].
  • Người có thói quen dùng viên bổ sung đơn chất kéo dài trên 10 năm mà không có chỉ định: Dữ liệu cho thấy thời gian sử dụng kéo dài làm tăng tỷ lệ nguy cơ ở cả hai giới [1], [2].

Người có bệnh lý mạn tính hoặc đang dùng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi sử dụng bất kỳ loại thực phẩm bổ sung nào. Các chế phẩm này không thể thay thế phác đồ điều trị y khoa.

Giải pháp thực tế bảo vệ thị lực cho người cao tuổi

Để duy trì sức khỏe thị lực mà không gặp phải rủi ro từ việc quá liều, người cao tuổi nên ưu tiên chiến lược dinh dưỡng tự nhiên:

  • Ưu tiên nguồn thực phẩm tươi: Bổ sung vitamin C qua cam, bưởi, ổi, ớt chuông và rau xanh đậm. Nghiên cứu năm 1992 cho thấy việc ăn nhiều rau bina liên quan chặt chẽ đến việc giảm nguy cơ phẫu thuật mắt [4]. Nghiên cứu năm 2008 trên 35.551 phụ nữ cũng chứng minh chế độ ăn giàu lutein/zeaxanthin và vitamin E giúp giảm nguy cơ đục thủy tinh thể lần lượt là 18% (RR = 0,82) và 14% (RR = 0,86) [8].
  • Duy trì mức tiêu thụ hợp lý: Đạt mức tiêu thụ khoảng từ 135 mg đến 363 mg vitamin C mỗi ngày từ chế độ ăn uống đa dạng đã đủ để hỗ trợ giảm nguy cơ đục thể thủy tinh mà không cần đến các viên nén 1000 mg [6].
  • Thay đổi lối sống: Đeo kính râm ngăn tia cực tím khi ra ngoài trời, không hút thuốc lá và kiểm soát tốt đường huyết vì đây là các yếu tố thúc đẩy tổn thương oxy hóa ở mắt [3]. Khám mắt định kỳ để phát hiện sớm các biến đổi của thể thủy tinh.

Việc bảo vệ đôi mắt khi về già là một quá trình chăm sóc tổng thể thông qua lối sống lành mạnh và dinh dưỡng cân bằng. Người cao tuổi không nên lạm dụng các loại viên uống vitamin C liều cao khi chưa có khuyến cáo chuyên môn, nhằm tránh những tác động không mong muốn đối với thị lực.