Mỗi khi thời tiết chuyển mùa, các bệnh lý đường hô hấp như cảm cúm, viêm họng lại bùng phát mạnh mẽ, khiến nhiều người tìm đến các loại thực phẩm bổ sung để tăng cường sức đề kháng. Trong số đó, vitamin D thường được truyền tai nhau như một "vũ khí tự nhiên" giúp phòng ngừa virus và giảm số lần mắc cúm. Thói quen tự ý mua vitamin D liều cao về uống khi chớm cảm sốt ngày càng phổ biến trong cộng đồng.
Liệu việc bổ sung vitamin D có thực sự làm giảm nguy cơ mắc các đợt nhiễm trùng đường hô hấp như lời đồn? Bằng chứng khoa học cho thấy câu trả lời phụ thuộc rất lớn vào nồng độ vitamin D vốn có trong cơ thể và cách dùng: hoạt chất này phát huy tác dụng bảo vệ rõ rệt nhất ở những người bị thiếu hụt nghiêm trọng và dùng liều bổ sung đều đặn, trong khi người có nồng độ bình thường hoặc dùng liều dồn lại nhận được rất ít lợi ích [1].
Đích đến của vitamin D trong hệ miễn dịch
Để hiểu tại sao vitamin D được chú ý trong việc bảo vệ đường thở, cần xem xét cơ chế liên quan giữa vi chất này với hệ thống phòng thủ của cơ thể. Tình trạng thiếu hụt vitamin D trong máu từ lâu đã được ghi nhận có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ cũng như mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng đường hô hấp cấp ở cả trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn [2]. Một lượng lớn nghiên cứu đã quan sát thấy những người có nồng độ vitamin D huyết thanh thấp thường dễ mắc bệnh hơn [2].
Nhiễm trùng hô hấp cấp tính thường được chia thành nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới [3], [4]. Đường hô hấp trên bao gồm cảm lạnh thông thường, viêm mũi họng, viêm xoang, viêm họng, viêm thanh quản; trong đó người trưởng thành mắc trung bình từ 2-4 đợt mỗi năm và trẻ nhỏ là 6-8 đến 7-12 đợt mỗi năm [3], [4]. Bệnh do nhiều loại virus gây ra như rhinovirus, coronavirus, virus cúm (influenza A/B/C), virus hợp bào hô hấp (RSV), parainfluenza và adenovirus [3]. Khi cơ thể rơi vào tình trạng thiếu vitamin D nghiêm trọng, hệ thống miễn dịch tự nhiên bị suy giảm khả năng ứng phó với các tác nhân này [2].
Hiệu quả rõ rệt nhất ở người thiếu hụt nồng độ đáy
Sự khác biệt lớn nhất về hiệu quả bảo vệ của vitamin D nằm ở mức nồng độ nền trong máu của từng cá nhân. Một phân tích gộp dữ liệu từng người tham gia công bố năm 2017 đã làm rõ vấn đề này khi phân tích cụ thể tác động của tần suất bổ sung [1].
Nghiên cứu trên chỉ ra rằng, đối với những người có nồng độ 25-hydroxyvitamin D ban đầu dưới 25 nmol/L (mức thiếu hụt rất sâu), việc bổ sung vitamin D hàng ngày hoặc hàng tuần mang lại mức độ bảo vệ vượt trội trước nhiễm trùng hô hấp cấp tính [1]. Cụ thể, phân tích trên 234 người tham gia từ 6 nghiên cứu cho thấy tỷ suất chênh đã hiệu chỉnh đạt 0,30 (khoảng tin cậy 95%: 0,17 đến 0,53; giá trị P < 0,001), tương ứng với chỉ số số người cần điều trị (NNT) là 4 (khoảng dao động từ 3 đến 7) [1]. Điều này có nghĩa là chỉ cần 4 người thiếu hụt nặng được bổ sung đều đặn thì đã có thể ngăn ngừa được một đợt nhiễm trùng hô hấp cấp [1].
Ngược lại, ở những đối tượng có nồng độ 25-hydroxyvitamin D nền cao hơn 25 nmol/L, việc dùng hàng ngày hoặc hàng tuần vẫn đem lại hiệu quả bảo vệ nhưng ở mức độ khiêm tốn hơn nhiều: tỷ suất chênh đã hiệu chỉnh là 0,75 (khoảng tin cậy 95%: 0,60 đến 0,95; P = 0,02; NNT = 15; phân tích trên 1.603 đối tượng trong 6 nghiên cứu) [1]. Phân tích tương tác đạt giá trị P = 0,006, xác nhận rằng tác dụng bảo vệ của chế độ dùng hàng ngày hoặc hàng tuần lớn hơn rõ rệt và có ý nghĩa thống kê ở nhóm bị thiếu hụt vitamin D sâu sắc [1]. Dữ liệu tổng hợp từ các nghiên cứu khác cũng xác nhận chỉ những cá nhân rất thiếu hụt và nhận bổ sung liên tục mới ghi nhận được các lợi ích này [2].
Uống hàng ngày hay dồn liều: Yếu tố quyết định
Một phát hiện then chốt khác từ nghiên cứu năm 2017 là hình thức bổ sung quyết định sự thành bại của việc phòng ngừa. Nhiều người có thói quen ngại uống thuốc mỗi ngày nên chọn cách uống một liều cực lớn (bolus dose) theo tháng hoặc quý. Tuy nhiên, dữ liệu khoa học cho thấy việc dùng vitamin D liều dồn (bolus) hoàn toàn không mang lại bất kỳ sự bảo vệ nào trước nhiễm trùng đường hô hấp cấp, ngay cả khi dùng cho nhóm đối tượng có nồng độ vitamin D đáy dưới 25 nmol/L (tỷ suất chênh đã hiệu chỉnh 0,82; khoảng tin cậy 95%: 0,51 đến 1,33; 304 người trong 8 nghiên cứu; P = 0,43) [1].
Phát hiện này tái khẳng định rằng việc đưa vào cơ thể một liều dồn ngắt quãng không giúp hệ miễn dịch duy trì được lá chắn bảo vệ trước các đợt cảm cúm hay nhiễm trùng hô hấp cấp [1], [2]. Bổ sung liên tục, đều đặn dạng hàng ngày hoặc hàng tuần mới là mô hình ghi nhận được tác dụng lâm sàng đối với các ca bệnh [1], [2].
Tranh luận khoa học từ các phân tích gộp lớn
Bên cạnh những kết quả tích cực ở nhóm thiếu hụt nồng độ đáy, bức tranh tổng thể từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều. Một phân tích gộp năm 2022 khảo sát 30 thử nghiệm RCT với 30.263 người tham gia cho thấy, khi tính chung tất cả các thử nghiệm, bổ sung vitamin D không đem lại tác dụng bảo vệ có ý nghĩa thống kê trong việc phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp cấp (nguy cơ tương đối RR = 0,96; khoảng tin cậy 95%: 0,91-1,01; I2 = 59,0%) [3].
Mặc dù trong phân tích dưới nhóm của nghiên cứu này, việc bổ sung hàng ngày (RR = 0,83; khoảng tin cậy 95%: 0,73-0,95; 15 nghiên cứu) và bổ sung ngắn hạn (RR = 0,83; khoảng tin cậy 95%: 0,71-0,97; 13 nghiên cứu) ban đầu cho thấy hiệu quả, nhưng các tác dụng có lợi này lại hoàn toàn biến mất khi chỉ phân tích các nghiên cứu có chất lượng cao (RR = 0,89 theo thang điểm Jadad trên 10 nghiên cứu; RR = 0,87 theo công cụ đánh giá rủi ro sai lệch của Cochrane trên 4 nghiên cứu) [3]. Phân tích này cũng ghi nhận sự hiện diện của sai lệch xuất bản, từ đó đưa ra kết luận rằng việc bổ sung vitamin D không có hiệu quả lâm sàng trong phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp cấp nói chung [3].
Tương tự, khi phân tích toàn bộ các nghiên cứu cùng nhau trong nghiên cứu IPD năm 2017, không thấy tác động có ý nghĩa thống kê của vitamin D lên tỷ lệ người tham gia có ít nhất một đợt nhiễm trùng đường hô hấp trên hay nhiễm trùng đường hô hấp dưới [1].
Bổ sung khi đã nhiễm bệnh: Có giúp trị cúm?
Một quan niệm sai lầm rất phổ biến là dùng vitamin D như một vị thuốc điều trị khi bắt đầu xuất hiện các triệu chứng hắt hơi, sổ mũi hoặc viêm phổi. Tuy nhiên, y văn hiện đại không ủng hộ việc sử dụng vi chất này cho mục đích chữa trị cấp tính.
Một phân tích gộp năm 2022 đánh giá hiệu quả điều trị của vitamin D trên 18 RCT với 3.648 người tham gia (1.838 người nhóm can thiệp và 1.810 người nhóm chứng) cho thấy: dù trên toàn bộ các thử nghiệm có ghi nhận tác động với RR = 1,07 (khoảng tin cậy 95%: 1,01-1,13), sự thay đổi 7% này không được coi là có ý nghĩa thực chất về mặt lâm sàng [4]. Đáng chú ý, trong phân tích dưới nhóm ở các thử nghiệm RCT chất lượng cao, vitamin D không mang lại hiệu quả điều trị có ý nghĩa (RR = 1,02; khoảng tin cậy 95%: 0,98-1,06), đồng thời có tồn tại sai lệch xuất bản [4]. Nghiên cứu kết luận rằng vitamin D không có hiệu quả lâm sàng trong việc điều trị các đợt nhiễm trùng hô hấp cấp [4].
Tại nhóm đối tượng nhi khoa, một đánh giá hệ thống và phân tích gộp của nhóm công tác EAACI (cập nhật tháng 4/2023) trên 50 nghiên cứu về can thiệp dinh dưỡng cho thấy các phân tích gộp về vitamin D không cho thấy bất kỳ tác dụng nào ở trẻ em bị viêm phổi [5].
Dữ liệu trên nhóm đối tượng trẻ em và COVID-19
Đối với nhóm trẻ em khỏe mạnh, một phân tích gộp năm 2023 trên 8 thử nghiệm RCT (độ tuổi 0-18) chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm trùng giữa nhóm dùng vitamin D và nhóm dùng giả dược là tương đương nhau (OR = 0,98; khoảng tin cậy 95%: 0,90-1,08; P = 0,62) [6]. Dù vậy, một điểm đáng chú ý là nghiên cứu này ghi nhận mức giảm đáng kể tỷ lệ mắc Cúm A (Influenza A) ở nhóm dùng vitamin D liều cao so với nhóm liều thấp (OR = 0,39; khoảng tin cậy 95%: 0,26-0,59; P < 0,001) [6]. Nghiên cứu cũng báo cáo hồ sơ an toàn tổng thể là chấp nhận được trên dữ liệu 8.972 bệnh nhân [6].
Bên cạnh đó, một phân tích gộp khác dựa trên mô hình kinh tế năm 2023 dẫn lại dữ liệu từ 15 RCT với 11.871 học sinh khỏe mạnh (1 đến 16 tuổi) dùng liều 400-1000 IU hàng ngày trong 6-12 tháng, ghi nhận tác dụng bảo vệ trước nguy cơ mắc một hoặc nhiều đợt nhiễm trùng hô hấp (nguy cơ 0,71; khoảng tin cậy 0,57-0,90), đồng thời không có sự khác biệt về các biến cố bất lợi nghiêm trọng, tử vong, tăng canxi máu hay sỏi thận [7].
Ngoài các bệnh cảm cúm thông thường, bằng chứng từ một phân tích gộp dạng ô dù (umbrella meta-analysis) công bố năm 2024 khảo sát các bệnh nhân COVID-19 là người trưởng thành cho thấy việc bổ sung vitamin D và tình trạng vitamin D đủ giúp giảm tỷ lệ tử vong do COVID-19 một cách đáng kể (ở các nghiên cứu can thiệp: ES = 0,42; khoảng tin cậy 95%: 0,10 đến 0,75; P < 0,001; và nghiên cứu quan sát: ES = 1,99; khoảng tin cậy 95%: 1,37 đến 2,62; P < 0,001) [8]. Tình trạng thiếu hụt vitamin D làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng và độ nặng của bệnh, khiến việc kiểm tra tình trạng vi chất này ở người bệnh nặng trở nên quan trọng [8].
Ai nên thận trọng và cách áp dụng an toàn
Việc bổ sung vitamin D được xác định là an toàn ở liều lượng thích hợp [2], [6], [7]. Tuy nhiên, người dân không nên tự ý lạm dụng hoặc dùng các phác đồ dồn liều cực cao mà không có chỉ định y khoa [1]. Những người có bệnh lý nền về thận, sỏi thận, hoặc rối loạn chuyển hóa canxi cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi bắt đầu bất kỳ liệu trình bổ sung nào.
Để áp dụng bằng chứng khoa học vào đời sống một cách hợp lý:
- Xác định tình trạng cơ thể: Nếu bạn thường xuyên bị ốm vặt hoặc sống trong môi trường ít tiếp xúc ánh nắng, hãy đến cơ sở y tế xét nghiệm nồng độ 25-hydroxyvitamin D để biết mình có thuộc nhóm thiếu hụt nghiêm trọng (< 25 nmol/L) hay không [1].
- Cách bổ sung: Nếu thuộc diện thiếu hụt cần bổ sung, ưu tiên chế độ uống đều đặn hàng ngày hoặc hàng tuần thay vì sử dụng các mũi tiêm hoặc viên uống dồn liều cực lớn [1], [2]. Các thử nghiệm ở trẻ em ghi nhận mức dùng duy trì phổ biến từ 400-1000 IU mỗi ngày trong các đợt theo dõi từ 6-12 tháng [7].
- Không dùng thay thuốc chữa bệnh: Khi đã mắc cảm cúm hoặc viêm phổi, không tự ý tăng liều vitamin D để "chữa bệnh" vì các phân tích gộp cho thấy vi chất này không có hiệu quả lâm sàng trong việc điều trị dứt điểm đợt bệnh cấp [5], [4].
Tóm lại, vitamin D không phải là viên thuốc thần kỳ giúp loại bỏ hoàn toàn nguy cơ mắc cúm cho tất cả mọi người. Lợi ích phòng vệ hô hấp của vi chất này thể hiện mạnh mẽ nhất khi giải quyết tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng bằng liều uống đều đặn, kết hợp cùng chế độ sinh hoạt lành mạnh và dinh dưỡng cân bằng.





