Nhiều người có thói quen mua vitamin E về uống hằng ngày với niềm tin chất chống oxy hóa này sẽ làm sạch lòng mạch, ngăn ngừa xơ vữa và phòng tránh đột quỵ. Đây là xu hướng bổ sung thực phẩm chức năng phổ biến, xuất phát từ các lời truyền miệng về lợi ích bảo vệ tim.
Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học quy mô lớn nhất hiện nay đều đưa ra câu trả lời phủ định: uống dự phòng vitamin E không giúp giảm nguy cơ đột quỵ, không ngăn ngừa nhồi máu cơ tim và cũng không kéo giảm tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch [1], [2], [3].
Cơ chế chống oxy hóa và giả thuyết ban đầu
Trong các nghiên cứu cơ bản, các nhà khoa học nhận thấy các chất chống oxy hóa có cơ chế hợp lý để ngăn ngừa tổn thương xơ vữa động mạch [4]. Về mặt lý thuyết sinh học, vitamin E là một chất tan trong dầu có khả năng ức chế quá trình oxy hóa hạt mỡ LDL-cholesterol, từ đó được kỳ vọng sẽ bảo vệ thành mạch khỏi các mảng bám nguy hiểm [4].
Ngoài ra, những dữ liệu dược lý ban đầu cũng từng gợi ý vitamin E có thể mang lại tác động tích cực đối với một số tình trạng bệnh mạch máu, đặc biệt là chứng đau cách hồi [5]. Tuy vậy, các thử nghiệm lâm sàng ban đầu về chứng đau cách hồi và cơn đau thắt ngực vẫn còn nhiều thiếu sót về mặt phương pháp luận, đòi hỏi phải có những nghiên cứu kiểm chứng nghiêm ngặt hơn [5].
Bằng chứng dịch tễ học và nguồn gốc của sự ngộ nhận
Lý do khiến niềm tin về vitamin E tồn tại dai dẳng bắt nguồn từ các nghiên cứu dịch tễ quan sát trước đây. Trong một bài tổng quan công bố năm 1995, cả 3 nghiên cứu đoàn hệ lớn đều ghi nhận việc bổ sung hoặc nạp vitamin E hàm lượng cao gắn liền với mức giảm đáng kể nguy cơ bệnh tim mạch, với tỷ lệ giảm nguy cơ tương đối dao động từ 31% đến 65% [6]. Các nhà nghiên cứu lúc đó ước tính rằng để đạt được mức giảm này, việc bổ sung phải kéo dài ít nhất 2 năm [6].
Trong khi đó, mức độ giảm nguy cơ ở beta-carotene (từ -2% đến 46%) và vitamin C (từ -25% đến 51%) lại kém nhất quán hơn rất nhiều [6]. Kết quả quan sát này cũng được củng cố trong một bài tổng quan khác năm 1997, khi các khảo sát dịch tễ học tiến cứu tiếp tục ghi nhận mối liên quan giữa việc tiêu thụ nhiều vitamin chống oxy hóa, đặc biệt là vitamin E, với việc hạ thấp nguy cơ bệnh mạch vành [7]. Thậm chí tại Mỹ, trước khi có bằng chứng thử nghiệm lâm sàng đầy đủ, từng có khoảng 1 trên 4 người trưởng thành uống bổ sung vitamin E [3].
Dẫu vậy, các chuyên gia đã chỉ ra rằng nghiên cứu quan sát tồn tại sai số gây nhiễu rất lớn [6], [3]. Những người chủ động mua vitamin E uống thường là nhóm có ý thức chăm sóc sức khỏe tốt hơn: họ ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên và ít hút thuốc hơn [6]. Chính những thói quen sống tích cực này tạo ra lợi ích bảo vệ tim mạch, chứ không hẳn do viên uống vitamin E [6], [3].
Can thiệp lâm sàng quy mô lớn nói gì?
Để xác định chính xác mối quan hệ nhân quả, các nhà khoa học buộc phải dựa vào các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, sử dụng giả dược [7], [4]. Khác hẳn với kết quả quan sát đầy hứa hẹn, các can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên đã cho thấy kết quả hoàn toàn trái ngược [6], [1], [3].
Một tổng quan năm 2004 tổng hợp 7 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên quy mô lớn về việc dùng vitamin E trong điều trị và phòng ngừa bệnh tim mạch [3]. Kết quả cho thấy 6 trên 7 thử nghiệm không ghi nhận bất kỳ tác động có ý nghĩa nào của vitamin E [3]. Tính chung, vitamin E không mang lại lợi ích có ý nghĩa thống kê hay lâm sàng đối với các biến cố tim mạch nghiêm trọng (tỷ số chênh OR 0,98; khoảng tin cậy 95% [CI]: 0,94-1,03) [3]. Phân tích từng biến cố cụ thể cũng cho kết quả tương tự:
- Nhồi máu cơ tim không tử vong: OR 1,00 (95% CI: 0,92-1,09) [3].
- Đột quỵ không tử vong: OR 1,03 (95% CI: 0,93-1,14) [3].
- Tử vong do nguyên nhân tim mạch: OR 1,00 (95% CI: 0,94-1,05) [3].
Cũng trong năm 2004, một phân tích tổng hợp khác rà soát 84 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng giả dược để đánh giá hiệu quả của vitamin E đơn độc hoặc kết hợp [2]. Kết quả chỉ ra rằng đối với các biến cố tử vong do mọi nguyên nhân, tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim (tử vong hoặc không tử vong) và mỡ máu, việc bổ sung vitamin E không đem lại bất kỳ lợi ích hay tác hại có ý nghĩa thống kê nào [2]. Chẳng hạn, nguy cơ tương đối gộp khi dùng vitamin E đơn độc đối với tử vong do mọi nguyên nhân là 0,96 (95% CI: 0,84-1,10), tử vong tim mạch là 0,97 (95% CI: 0,80-1,90) và nhồi máu cơ tim không tử vong là 0,72 (95% CI: 0,51-1,02) [2].
Nghiên cứu Sức khỏe Bác sĩ II (Physicians' Health Study II - PHS II) công bố năm 2009 là một trong những thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược lớn nhất [1]. Thử nghiệm theo dõi 14.641 bác sĩ nam tại Mỹ từ 50 tuổi trở lên (bao gồm 754 người đã có tiền sử tim mạch) trong thời gian trung bình 8,0 năm [1]. Những người tham gia được chia ngẫu nhiên dùng 400 IU vitamin E cách ngày, 500 mg vitamin C mỗi ngày, hoặc giả dược [1]. Kết quả theo dõi ghi nhận 1.245 biến cố tim mạch chính, nhưng tỷ lệ xảy ra biến cố ở nhóm dùng vitamin E và nhóm dùng giả dược hoàn toàn bằng nhau (10,9 biến cố trên 1.000 người-năm; HR 1,01; 95% CI: 0,90-1,13; P=0,86) [1]. Vitamin E cũng không làm giảm nhồi máu cơ tim (HR 0,90; 95% CI: 0,75-1,07; P=0,22), không giảm đột quỵ (HR 1,07; 95% CI: 0,89-1,29; P=0,45) và không giảm tử vong do tim mạch (HR 1,07; 95% CI: 0,90-1,29; P=0,43) [1]. Nghiên cứu cũng xác nhận vitamin C không mang lại bất kỳ hiệu quả phòng ngừa tim mạch nào [1].
Uống kéo dài không giúp bảo vệ, có thể làm tăng nguy cơ suy tim
Nhiều giả thuyết từng cho rằng các thử nghiệm trước đó thất bại vì thời gian can thiệp chưa đủ lâu và việc bổ sung có thể cần kéo dài trên 5 năm mới bộc lộ tác dụng [6], [8]. Thử nghiệm mở rộng của nghiên cứu HOPE (Heart Outcomes Prevention Evaluation) đã kiểm chứng điều này [8].
Ban đầu, nghiên cứu HOPE thực hiện trên các bệnh nhân có tiền sử tim mạch hoặc đái tháo đường kèm yếu tố nguy cơ tim mạch, sử dụng 400 IU vitamin E mỗi ngày trong trung bình 4,5 năm [8]. Kết quả ban đầu không thấy sự khác biệt về tiêu chí kết hợp gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong tim mạch (16,2% ở nhóm vitamin E so với 15,5% ở nhóm giả dược, p=0,33) [8].
Khi kéo dài thời gian theo dõi lên trung bình 7,2 năm trên 3.994 bệnh nhân để kiểm tra giả thuyết thời gian dùng thuốc, kết quả can thiệp vẫn không thay đổi: tỷ lệ biến cố tim mạch kết hợp ở nhóm vitamin E là 21,5% so với 20,6% ở nhóm giả dược (RR 0,71-1,09) [8]. Đáng lưu ý hơn, nghiên cứu lần đầu tiên ghi nhận nhóm bệnh nhân uống bổ sung vitamin E kéo dài có sự gia tăng đáng kể nguy cơ mắc suy tim mới (RR 1,13; 95% CI: 1,01-1,26) cũng như tăng nguy cơ phải nhập viện vì suy tim (RR 1,21; 95% CI: 1,00-1,47) [8].
Bên cạnh đó, các can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên quy mô lớn về một chất chống oxy hóa khác là beta-carotene trong phòng ngừa tiên phát cũng không cho thấy tác dụng bảo vệ mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây hại [7].
Hiểu lầm thường gặp và rủi ro khi lạm dụng
Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng thực phẩm giàu chất chống oxy hóa với viên uống bổ sung liều cao [7], [3]. Khi thấy các bài báo nhắc đến vai trò của vitamin E trong việc bảo vệ tế bào khỏi stress oxy hóa, nhiều người tự ý mua chế phẩm liều cao uống liên tục nhiều năm.
Tuy nhiên, cơ thể con người hấp thu và chuyển hóa các dưỡng chất từ thực phẩm tự nhiên theo cách hoàn toàn khác biệt so với việc tiếp nhận một hàm lượng lớn vitamin cô lập từ viên nang tổng hợp. Việc tự ý sử dụng các chất không có lợi ích rõ rệt, đặc biệt là các sản phẩm không kê đơn dễ mua, có thể tạo ra tâm lý an tâm giả tạo [3]. Điều này khiến người bệnh bỏ qua hoặc trì hoãn việc sử dụng các biện pháp điều trị y tế đã được chứng minh hiệu quả, đồng thời lơ là việc xây dựng lối sống lành mạnh [3].
Ai nên thận trọng khi dùng vitamin E liều cao?
Những người có tiền sử bệnh tim mạch, suy tim, người cao tuổi có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch hoặc bệnh nhân đái tháo đường cần đặc biệt thận trọng, không tự ý uống vitamin E liều cao kéo dài do nguy cơ làm tăng biến cố suy tim và tăng tỷ lệ nhập viện vì suy tim đã được ghi nhận trong nghiên cứu lâm sàng [8].
Bên cạnh đó, bất kỳ ai đang sử dụng các thuốc điều trị tim mạch, thuốc chống đông hoặc có bệnh lý mạn tính đều cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng thêm bất kỳ loại thực phẩm chức năng nào. Tuyệt đối không tự ý dùng vitamin E thay thế cho đơn thuốc điều trị đã được bác sĩ chỉ định.
Áp dụng thực tế: Chế độ ăn thay cho viên uống
Thay vì trông chờ vào viên uống bổ sung tổng hợp, cách an toàn và tự nhiên nhất để cung cấp vitamin E cho cơ thể là thông qua chế độ ăn uống cân bằng hằng ngày. Vitamin E có nhiều trong các loại dầu thực vật, các loại hạt (hạnh nhân, hạt hướng dương), quả bơ và các loại rau có lá màu xanh đậm.
Để bảo vệ hệ tim mạch và phòng ngừa đột quỵ một cách thực chất, người dân nên tập trung vào các biện pháp đã được chứng minh: kiểm soát tốt huyết áp, duy trì cân nặng hợp lý, vận động thể chất thường xuyên, hạn chế muối, bỏ hút thuốc lá và đi khám định kỳ để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ tim mạch.
Các nghiên cứu lâm sàng chất lượng cao suốt nhiều năm qua đã chỉ ra rõ ràng rằng vitamin E bổ sung không phải là giải pháp bảo vệ tim mạch hay ngăn ngừa đột quỵ [1], [2], [3]. Thay vì tốn kém cho những viên uống không đem lại lợi ích thiết thực, người dân nên duy trì chế độ dinh dưỡng tự nhiên đa dạng và tuân thủ các hướng dẫn điều trị y khoa đã được kiểm chứng.








