Dược liệuSymbranchidae hoặc Flutidae
Lươn
Monopterus albus Zuiew
Tên gọi khác: Cá lươn, Hoàng thiện
Tác dụng bổ trung, ích khí, trừ thấp.
Cách sử dụng trong đời sống
- Thịt lươn: Ngon và bổ, thích hợp với thể trạng nhiệt, rất tốt cho trẻ em gầy yếu, xanh xao, phụ nữ sau khi đẻ hư nhược, khí huyết không điều hoà. Lấy lươn tuốt cho hết nhớt bằng rơm và tro bếp, rửa sạch, mổ bỏ lòng ruột, để cả con, luộc qua, gỡ lấy thịt, nấu cháo ăn hoặc sấy khô, tán bột uống. Ở đồng bằng Nam Bộ, lươn nấu với cá, rau rút và một số rau gia vị thành món lẩu canh chua, một món ăn- vị thuốc bổ dưỡng phổ biến có thêm tác dụng thanh nhiệt, nhuận tràng, an thần, mạnh gân xương và mùi vị thơm ngon hấp dẫn phảng phất tựa nấm hương của rau rút. Thịt lươn nấu với ngó sen, ăn chữa rong kinh, băng huyết; cuốn lá lốt nướng ăn chữa tê thấp; hầm với rau dừa nước lại là thuốc bổ máu; ninh nhừ với màng mề gà. ăn trị cam tích trẻ em. Người Nhật Bản coi thịt lươn như một loại thực phẩm thông huyết mạch, lợi gân cốt, nên gọi là “sâm động vật”. Tiết lươn : Dùng tiết vừa cắt ở cổ lươn nhỏ vào tai mỗi ngày chừng 3-4 giọt chữa đau tai (Nam dược thần hiệu). Tiết lươn bôi nhiều lần trong ngày chữa những vết mẩn do con dời leo (một loại viêm da cấp tính có mụn rất nhỏ nổi lấm tấm như hạt kê). Xương lươn : Đem phơi hoặc sấy khô giòn, tán nhỏ đốt lấy khói xông chữa trĩ đau nhức (Nam dược thần hiệu). Xương lươn vàng giã nhỏ với mỡ ở đùi con dê, đắp vào mắt chữa mắt có màng trắng (Lương y Vũ Văn Kính – Thành phố Hồ Chí Minh). Ở một số nơi, người ta còn rang xương lươn với cát, tán nhỏ, rây bột mịn, uống với nước ấm chữa đau lưng. Ở Nhật Bản, người ta tận dụng xương lươn để chế biến thành d…
