Nhiều loại cây cỏ mọc hoang quanh vườn nhà thường được bà con hái về làm thuốc nam hoặc nấu nước uống thanh nhiệt. Cây lục lạc trắng (thuộc chi Crotalaria) là một trong những loài thực vật quen thuộc, hay xuất hiện ven đường hoặc được trồng cải tạo đất. Vì quan niệm cây cỏ tự nhiên luôn lành tính, không ít người đã tự ý sắc uống mà không lường trước hiểm họa.
Tuy nhiên, các chuyên gia y tế và bằng chứng khoa học khẳng định: việc tự ý sử dụng các bộ phận của cây lục lạc trắng tiềm ẩn rủi ro rất cao đối với sức khỏe con người, đặc biệt là lá gan. Các hợp chất pyrrolizidine alkaloid (PA) có trong chi thực vật này là những độc chất chuyển hóa nguy hiểm, có thể dẫn đến tổn thương gan vĩnh viễn, thậm chí tử vong.
Pyrrolizidine alkaloid trong lục lạc trắng là gì?
Chi Lục lạc (Crotalaria, thuộc họ Đậu - Fabaceae) có khoảng 600 loài phân bố rộng khắp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [1]. Trong tự nhiên, loài cây này thường đóng vai trò làm cây che phủ, phân xanh hoặc kiểm soát tuyến trùng trong đất nông nghiệp [1].
Đặc điểm sinh học nổi bật của các loài trong chi này là sản sinh ra pyrrolizidine alkaloid (viết tắt là PA) [1]. Đây vốn là các hóa chất tự nhiên giúp cây tự vệ trước sự tấn công của các loài động vật ăn cỏ [1]. Trong số các alkaloid tìm thấy ở chi Crotalaria, monocrotaline là hợp chất chiếm ưu thế nhất [1]. Monocrotaline mang nhiều hoạt tính sinh học nhưng đồng thời cũng được ghi nhận có độc tính tế bào, độc tính gan, độc tính thần kinh và khả năng sinh u [1].
Các PA có thể gây độc cho cả người và gia súc, từng liên quan đến nhiều vụ ngộ độc cấp tính nặng nề [2], [3]. Chi Crotalaria cùng với chi Senecio là hai chi thực vật phổ biến gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi và gây ngộ độc ở người do độc tính trên gan [3].
Phân bố độc chất ở các bộ phận của cây
Không phải bộ phận nào của cây cũng chứa lượng độc chất như nhau. Một nghiên cứu chuyên sâu năm 2020 trên các loài thuộc chi Crotalaria (bao gồm Crotalaria pallida - tức lục lạc trắng, cùng các loài C. maypurensis, C. retusa, C. spectabilis, C. incana, C. nitens) đã phân tích mẫu rễ, lá, hoa và hạt bằng phương pháp sắc ký lỏng siêu cao áp ghép khối phổ (UHPLC-Orbitrap-MS) [2].
Kết quả nghiên cứu đã phát hiện tới 45 loại pyrrolizidine alkaloid khác nhau [2]. Các diester mạch vòng dạng retronecine như monocrotaline, crotaleschenine, integerrimine, usaramine cùng dạng N-oxide của chúng chiếm tỷ lệ chủ yếu [2]. Nghiên cứu cũng lần đầu tiên xác định 5 alkaloid mới trong chi này, gồm 14-hydroxymonocrotaline, 12-acetylcrotaleschenine, 12-acetylmonocrotaline, 12-acetylintegerrimine và dihydrointegerrimine [2].
Đáng chú ý, kết quả định lượng cho thấy hạt và hoa chứa hàm lượng pyrrolizidine alkaloid cao hơn rõ rệt so với rễ và lá [2]. Do chứa các alkaloid nhóm 1,2-unsaturated pyrrolizidine, việc nuốt phải hạt hoặc các bộ phận khác của cây Crotalaria qua các sản phẩm thảo dược, nước sắc hay bài thuốc dân gian tự chế là mối đe dọa nghiêm trọng tới tính mạng con người và vật nuôi [2].
Độc tính gan của alkaloid: Cơ chế phá hủy tế bào
Bản thân các pyrrolizidine alkaloid khi vào cơ thể không lập tức phát huy độc tính mà cần qua quá trình chuyển hóa tại gan. Độc tính trên gan xuất phát từ khả năng phản ứng rất cao của các dẫn xuất pyrrole sau khi được hệ enzyme trong cơ thể chuyển hóa [4]. Cả phân tử alkaloid ban đầu lẫn các chất chuyển hóa đều có thể hoạt động như chất alkyl hóa, tạo liên kết cộng hóa trị bền vững với các đại phân tử trong tế bào [4]. Vì có khả năng tương tác với vật chất di truyền, các PA cũng liên quan mật thiết đến hiện tượng đột biến gen và sinh ung thư [4].
Nghiên cứu công bố năm 2023 cho thấy độc tính trên gan và tim phổi của monocrotaline đòi hỏi sự hoạt hóa trao đổi chất qua enzyme CYP3A4 để tạo thành chất dehydro-monocrotaline (DHM) có tính ái điện tử [5]. Bên cạnh đó, enzyme myeloperoxidase (MPO) cũng tham gia vào con đường hoạt hóa độc tính này [5]. Các chất cộng hợp N-acetylcysteine (NAC) từ DHM đã được tìm thấy trong các thí nghiệm có sự tham gia của MPO và phản ứng tạo N-chloromonocrotaline [5].
Khi gan bị tổn thương, men gan sẽ tăng vọt. Đáng chú ý, phản ứng viêm trong cơ thể sẽ làm trầm trọng thêm tác hại của độc chất. Khi gây viêm bằng lipopolysaccharide trên chuột, hoạt tính enzyme MPO ở gan tăng cao, đẩy mạnh chuyển hóa độc chất monocrotaline và làm nồng độ men gan ALT, AST trong máu tăng vọt [5]. Sự can thiệp bằng chất ức chế MPO giúp đảo ngược các biến đổi này, và những cá thể chuột bị biến đổi gen loại bỏ MPO (Mpo-KO) đã kháng lại tác động khuếch đại tổn thương gan của phản ứng viêm [5].
Bằng chứng khoa học từ các thử nghiệm động vật
Nguy cơ tàn phá gan của chi Crotalaria đã được chứng minh qua nhiều thập kỷ nghiên cứu trên thế giới.
Một nghiên cứu thực hiện năm 1981 tại Sri Lanka đã tiến hành sàng lọc 50 loại cây thuốc dùng trong dân gian để tìm pyrrolizidine alkaloid [6]. Ba loài thực vật đã cho kết quả dương tính, bao gồm Crotalaria verrucosa L., Holarrhena antidysenterica (L.) Br. và Cassia auriculata L. [6]. Thử nghiệm cho chuột ăn các vật liệu từ ba loài này đã dẫn đến hàng loạt tổn thương mô học nghiêm trọng ở gan: đứt gãy tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy, xung huyết hoặc xuất huyết xoang gan trung tâm, hoại tử tế bào gan vùng trung tâm hoặc rải rác [6]. Ngoài ra, tổn thương mô học tương thích với độc tính của PA cũng xuất hiện ở phổi và thận chuột [6]. Nghiên cứu đưa ra cảnh báo rằng việc tiêu thụ các loại thảo mộc chứa PA có thể góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh gan mạn tính và ung thư biểu mô tế bào gan nguyên phát ở các nước châu Á và châu Phi [6].
Một nghiên cứu khác từ năm 1987 trên gà cho thấy độc tính mạn tính và tỷ lệ chết liên quan mật thiết đến việc thức ăn bị nhiễm hạt của các loài Crotalaria chứa monocrotaline [7]. Nghiên cứu đo lường nồng độ tạo thành chất chuyển hóa pyrrole ở các nhóm gà dùng liều monocrotaline khác nhau (từ 20 mg/kg đến 40 mg/kg) có kết hợp các chất can thiệp như BHA (100–500 mg/kg) hoặc 2-chloroethanol, cho thấy sự hình thành chất chuyển hóa độc pyrrole tỷ lệ thuận với mức độ bệnh lý mô học gan và tỷ lệ tử vong [7].
Bên cạnh đó, các pyrrolizidine alkaloid thường gặp trong chi Crotalaria (như ở Crotalaria pallida) còn được ghi nhận khả năng gây sai lệch nhiễm sắc thể ở dòng tế bào buồng trứng chuột lang Trung Quốc (CHO), đột biến gen ở tế bào phổi chuột lang (CHL), trao đổi đoạn nhiễm sắc tử chị em ở tế bào lympho ngoại vi người và tăng tần số vi nhân ở tế bào hành tây Allium cepa [4].
Dù vậy, Crotalaria pallida cũng chứa một số thành phần khác. Nghiên cứu năm 2013 ghi nhận phân đoạn dichloromethane và hợp chất stigmasterol tách chiết từ C. pallida không thể hiện hoạt tính gây đột biến qua thử nghiệm Ames trên chủng TA98 [4]. Stigmasterol là phytosterol có tính chống oxy hóa, hỗ trợ ngăn ngừa tổn thương DNA do các gốc tự do [4]. Tuy nhiên, sự hiện diện của một vài hoạt chất chống oxy hóa không thể làm lu mờ nguy cơ gây ngộ độc nặng nề từ các pyrrolizidine alkaloid tồn tại song song trong cây.
Hiểu lầm thường gặp về lục lạc trắng
Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "cây cỏ tự nhiên hái ngoài vườn là an toàn, uống thay trà giúp mát gan giải độc". Pyrrolizidine alkaloid là độc chất do cây tự tổng hợp để phòng thủ tự nhiên [1]. Độc tính gan của chúng diễn ra âm thầm, khi tích tụ đủ lượng có thể gây tắc tĩnh mạch xoang gan, xơ hóa và dẫn tới ung thư gan [6].
Hiểu lầm thứ hai là "đun sôi, sắc kỹ thì độc chất sẽ bay hơi hoặc biến mất". Các alkaloid vòng như monocrotaline rất bền vững và độc tính thực sự chỉ bộc phát sau khi cơ thể chuyển hóa qua gan [5], [4]. Việc đun nấu thảo mộc hay tự pha trà uống không loại bỏ được độc tính mà trái lại, nước sắc thảo mộc chứa PA là một trong những nguồn phơi nhiễm ngộ độc trực tiếp được các nhà khoa học cảnh báo [2].
Những ai cần đặc biệt thận trọng?
Mọi đối tượng đều đối mặt với rủi ro sức khỏe nếu sử dụng các sản phẩm chứa PA từ chi Crotalaria [2]. Tuy nhiên, một số nhóm người sau đây có nguy cơ tổn thương gan nhanh và nặng nề hơn:
- Người đang có các ổ viêm nhiễm trong cơ thể: Nghiên cứu khoa học chỉ rõ phản ứng viêm làm tăng hoạt tính enzyme MPO, thúc đẩy gan chuyển hóa độc chất monocrotaline thành dạng độc hại hơn, làm men gan ALT và AST tăng vọt [5].
- Người có bệnh lý nền về gan: Những người đang bị viêm gan, gan nhiễm mỡ, men gan cao hoặc suy giảm chức năng gan nếu tiếp xúc với PA sẽ dễ bị hoại tử tế bào gan diện rộng [6], [5].
- Người tự ý dùng thảo dược không rõ nguồn gốc: Các trường hợp ngộ độc cấp tính và mạn tính do lẫn hạt hoặc nguyên liệu từ các loài Crotalaria vào thảo dược hay thức ăn đã được ghi nhận ở nhiều quốc gia [2], [5].
Khuyến nghị áp dụng thực tế an toàn
Để bảo vệ chức năng gan và tránh nguy cơ ngộ độc, người dân cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Tuyệt đối không tự ý hái lục lạc trắng, hoa hay hạt của cây để đun nước, sắc thuốc hoặc ngâm rượu uống. Hạt và hoa là nơi tập trung độc chất pyrrolizidine alkaloid ở mức cao nhất [2].
- Thận trọng khi mua thảo dược khô không rõ nhãn mác. Thảo dược thu hái lẫn tạp chất hoặc các loài họ Đậu hoang dã có thể chứa alkaloid độc hại [2], [6].
- Nếu có nhu cầu sử dụng thảo dược điều trị bệnh, người dân phải thăm khám và dùng thuốc theo đơn chỉ định của bác sĩ y học cổ truyền hoặc cơ sở y tế uy tín. Khi nghi ngờ có dấu hiệu ngộ độc (vàng da, mệt mỏi, đau tức hạ sườn phải), cần đến bệnh viện kiểm tra chức năng gan ngay lập tức.
Tóm lại, cây lục lạc trắng và các loài cùng chi Crotalaria chứa nhiều pyrrolizidine alkaloid mang độc tính gan, độc tính gen và nguy cơ sinh ung thư. Không tự ý dùng các bài thuốc dân gian truyền miệng từ loài cây này là cách tốt nhất để bảo vệ lá gan và tính mạng của bản thân.



