Nhiều bậc phụ huynh thường nhắc nhở con cái tích cực ăn cà rốt để mắt sáng và nhanh chóng khỏi cận thị. Quan niệm này phổ biến đến mức không ít người tin rằng việc bổ sung loại củ màu cam này hằng ngày có thể giúp giảm độ kính hoặc phục hồi thị lực hoàn toàn.

Tuy nhiên, khoa học khẳng định cà rốt hoàn toàn không có khả năng chữa khỏi hay đảo ngược tật khúc xạ cận thị. Dù chứa nhiều tiền chất vitamin A giúp bảo vệ chức năng nhìn trong bóng tối, cà rốt không thể làm thay đổi kích thước hay cấu trúc hình học của nhãn cầu mắt.

Cơ chế tác động: Nhầm lẫn giữa tật khúc xạ và quáng gà

Cận thị là một tật khúc xạ vật lý, xảy ra khi trục nhãn cầu phát triển quá dài hoặc giác mạc có độ cong quá lớn so với bình thường. Khi đó, các tia sáng đi vào mắt sẽ hội tụ ở phía trước võng mạc thay vì rơi chính xác lên võng mạc, dẫn đến hình ảnh nhìn xa bị mờ nhòe. Để điều chỉnh hiện tượng quang học này, người bệnh bắt buộc phải sử dụng kính gọng, kính áp tròng hoặc can thiệp phẫu thuật để thay đổi điểm hội tụ của ánh sáng. Không có bất kỳ loại thực phẩm nào, bao gồm cả cà rốt, có thể làm ngắn lại trục nhãn cầu đã phát triển dài ra.

Sở dĩ cà rốt gắn liền với thị lực là nhờ hàm lượng beta-carotene dồi dào, một sắc tố thực vật được cơ thể chuyển hóa thành vitamin A. Vitamin A là thành phần thiết yếu cấu tạo nên rhodopsin, sắc tố nhạy cảm với ánh sáng nằm ở tế bào que của võng mạc. Thiếu hụt nghiêm trọng vi chất này sẽ dẫn đến chứng quáng gà, tức tình trạng suy giảm hoặc mất khả năng nhìn trong điều kiện ánh sáng yếu. Do đó, ăn thực vật giàu tiền chất vitamin A giúp phòng ngừa quáng gà do thiếu hụt dinh dưỡng, nhưng không mang lại tác dụng điều trị tật cận thị.

Nghiên cứu Blue Mountains: Sự thật về cà rốt và thị lực ban đêm

Mối liên hệ giữa việc ăn cà rốt và khả năng nhìn đã được đánh giá trong nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn Blue Mountains Eye Study công bố năm 1999 [1]. Nghiên cứu tiến hành khảo sát các đối tượng lớn tuổi về khả năng nhìn trong bóng tối, kết hợp ước tính lượng thực phẩm và vi chất nạp vào thông qua bảng câu hỏi tần suất ăn uống [1]. Các nhà nghiên cứu sau đó dùng mô hình hồi quy logistic để phân tích mối tương quan giữa tình trạng tự nhận thấy thị lực ban đêm kém và lượng dinh dưỡng tiêu thụ [1].

Kết quả cho thấy, ở phụ nữ, thị lực ban đêm kém có mối liên hệ với việc tiêu thụ lượng beta-carotene cao hơn (chỉ số xu hướng P = 0,03) và tổng lượng vitamin A cao hơn (chỉ số xu hướng P = 0,048) [1]. Đáng chú ý, việc ăn nhiều cà rốt gắn liền với sự gia tăng tỷ lệ báo cáo nhìn kém vào ban đêm ở nữ giới (chỉ số xu hướng P = 0,04), trong khi không có loại thực phẩm giàu beta-carotene nào khác biểu hiện mối liên hệ này [1]. Các tác giả giải thích rằng việc ăn nhiều cà rốt có thể giúp ngừa khó khăn khi nhìn đêm, nhưng thực tế những người nhận thấy khả năng lái xe kém do thị lực suy giảm đã chủ động ăn thêm nhiều cà rốt với hy vọng cải thiện tình trạng này [1]. Giới hạn của nghiên cứu là thiết kế quan sát dựa trên lời tự khai, không can thiệp đo lường sự đảo ngược độ cận.

Bằng chứng sinh học: Nguồn carotenoid và sự hấp thu trong cơ thể

Các bộ phận và giống cà rốt khác nhau cung cấp hàm lượng carotenoid đa dạng, được cơ thể chuyển hóa thành vitamin A dự trữ. Nghiên cứu thực nghiệm năm 2019 khảo sát khả năng duy trì tình trạng vitamin A của lá cà rốt trên chuột nhảy Mông Cổ đực từ 27 đến 30 ngày tuổi [2]. Sau 3 tuần áp dụng chế độ ăn thiếu hụt, 6 con bị hy sinh làm mốc ban đầu (n = 6) và 60 con còn lại được chia vào 6 nhóm tiêu thụ thức ăn bổ sung bột lá cà rốt từ 4 cây khác nhau với tỷ lệ alpha- so với beta-carotene khác nhau (1:1,4; 1:2,5; 1:5,0; và 1:80), chuẩn hóa ở mức 4,8 nmol/g đương lượng beta-carotene, hoặc thức ăn thiếu vitamin A có bổ sung hay không bổ sung retinyl acetate [2].

Sau 4 tuần can thiệp, phân tích sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) cho thấy nhóm bổ sung retinyl acetate có lượng vitamin A dự trữ ở gan cao hơn rõ rệt (trung bình 0,91 +- 0,29 micromol) so với các nhóm khác (dao động 0,40 đến 0,62 micromol; P <= 0,03) [2]. Lượng vitamin A gan ở nhóm ăn lá cà rốt không đổi so với mức ban đầu (0,55 +- 0,09 micromol) [2]. Nhóm thiếu vitamin A có mức dự trữ 0,40 +- 0,23 micromol và 30% số cá thể rơi vào tình trạng thiếu vitamin A (định nghĩa dưới 0,1 micromol/g gan) [2]. Hệ số hiệu quả sinh học dao động từ 4,2 đến 6,2 microgram đương lượng beta-carotene trên 1 microgram retinol, chứng minh tiền chất carotenoid từ lá cà rốt có thể chuyển hóa và duy trì nồng độ vi chất cho gan [2].

Năm 2004, một nghiên cứu cảm quan trên 96 người tiêu dùng đánh giá 5 giống cà rốt có màu sắc khác biệt [3]. Định lượng bằng HPLC chỉ ra giống cà rốt màu cam giàu beta-carotene chứa hàm lượng tổng carotenoid cao nhất [3]. Trừ cà rốt trắng, tất cả các giống còn lại đều là nguồn cung cấp carotenoid có sinh khả dụng đáng kể [3]. Đánh giá cảm quan cho thấy cà rốt cam và trắng được người tiêu dùng ưa chuộng hơn giống màu vàng, đỏ và tím ở cả thử nghiệm mù và mở (P < 0,01) [3].

Cũng trong năm 2004, hai thử nghiệm chéo trên người nhằm so sánh sinh khả dụng của lycopene và beta-carotene từ sốt cà chua và giống cà rốt đỏ chọn lọc gen thông qua món bánh nướng xốp [4]. Thử nghiệm 1 (n = 9 người) dùng cà rốt trắng (0 mg lycopene/ngày), cà rốt đỏ (5 mg lycopene/ngày) và sốt cà chua (20 mg lycopene/ngày) [4]. Thử nghiệm 2 (n = 10 người) dùng cà rốt đỏ (2,6 mg/ngày), sốt cà chua (5 mg/ngày) và sốt cà chua kết hợp cà rốt trắng (5 mg/ngày) [4]. Mỗi giai đoạn can thiệp kéo dài 11 ngày, xen kẽ 10 ngày đào thải [4]. Kết quả HPLC ghi nhận loại bánh ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê ở thử nghiệm 1 (P < 0,001), và nồng độ lycopene huyết thanh duy trì ở mức 0,3 micromol/l khi nạp khoảng 2 mg/ngày từ khẩu phần hỗn hợp, đạt ngưỡng bình nguyên khi dùng từ 20 mg/ngày trở lên [4]. Sinh khả dụng lycopene từ cà rốt đỏ tương đương khoảng 44% so với sốt cà chua, đồng thời cung cấp beta-carotene có sinh khả dụng cho cơ thể người [4].

Tại Mỹ, nghiên cứu năm 1992 khảo sát 30 nam giới ăn chế độ kiểm soát kết hợp khẩu phần hàng ngày gồm bông cải xanh, cà rốt, nước ép cà chua hoặc viên nang beta-carotene tinh khiết (12 mg hoặc 30 mg) trong suốt 6 tuần [5]. Nồng độ beta-carotene huyết tương tăng ở nhóm dùng viên nang và nhóm ăn cà rốt, trong khi alpha-carotene chỉ tăng ở nhóm ăn cà rốt [5]. Đáng lưu ý, nồng độ lutein sụt giảm ở những người uống viên nang beta-carotene, gợi ý có sự cạnh tranh hấp thu giữa hai chất này [5]. Viên uống tinh khiết tạo phản ứng huyết tương mạnh hơn thực phẩm, nhưng cà rốt nguyên bản vẫn nâng cao hiệu quả nồng độ carotenoid chuyên biệt [5].

Lợi ích có hạn và những hiểu lầm thường gặp

Bằng chứng từ các nghiên cứu cho thấy các thành phần của cà rốt hỗ trợ bổ sung carotenoid, ngăn ngừa thiếu hụt dinh dưỡng và gián tiếp duy trì chức năng thị giác ban đêm [1], [2]. Tuy vậy, chưa từng có thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh ăn cà rốt có thể phục hồi độ cận thị hay giảm số kính. Niềm tin rằng "ăn càng nhiều cà rốt, mắt càng sáng và hết cận" hoàn toàn là ngộ nhận.

Thậm chí, việc lạm dụng cà rốt vì nghĩ rằng vô hại có thể gây nên những tác động hành vi bất thường. Một báo cáo trường hợp năm 1996 ghi nhận tình trạng nghiện ăn cà rốt ở người phụ nữ 49 tuổi trong giai đoạn căng thẳng gia đình, trầm cảm và hút thuốc nhiều [6]. Bệnh nhân xuất hiện cảm giác thèm muốn cà rốt dữ dội và khi ngừng ăn gặp phải hội chứng cai rõ rệt gồm bồn chồn, thèm nhớ, mất ngủ, ợ chua và cáu gắt [6]. Tác giả nhận định chứng nghiện ăn này hiếm gặp, nghi ngờ beta-carotene có thể đóng vai trò kích thích hành vi thói quen hoặc mang yếu tố sinh hóa tác động tương tự nicotine, trước khi bệnh nhân ngừng thói quen này sau một ca phẫu thuật [6].

Ai nên thận trọng khi dùng cà rốt?

Mặc dù cà rốt là rau củ an toàn cho đại đa số, người dùng không nên tiêu thụ vượt quá mức thông thường. Khi nạp lượng lớn beta-carotene kéo dài, sắc tố này sẽ tích tụ dưới da gây hội chứng vàng da tăng carotenoid (carotenemia), biểu hiện rõ ở lòng bàn tay, bàn chân dù không gây nguy hại cấp tính.

Người có cơ địa lo âu, rối loạn ăn uống cần tránh việc tiêu thụ cà rốt ám ảnh mang tính cưỡng chế để đối phó với căng thẳng [6]. Ngoài ra, việc dùng liều cao carotenoid đơn lẻ dạng tinh chất cũng cần cân nhắc cẩn trọng, bởi sự dư thừa chất này có thể cản trở sự hấp thu của các chất chống oxy hóa quan trọng khác đối với mắt như lutein [5]. Những người mắc bệnh lý nền về chuyển hóa mỡ hoặc bệnh gan nên tham khảo chuyên gia dinh dưỡng để duy trì lượng ăn phù hợp.

Cách áp dụng thực tế để tối ưu dinh dưỡng cho mắt

Beta-carotene là hợp chất tan trong chất béo, nằm bên trong cấu trúc thành tế bào thực vật kiên cố. Do đó, phương pháp sơ chế và chế biến có tác động trực tiếp đến khả năng hấp thu của cơ thể.

Một nghiên cứu năm 2012 áp dụng kỹ thuật đồng vị bền để đánh giá sinh khả dụng trên nhóm nhỏ người khỏe mạnh ăn 100 g cà rốt sống hoặc xào [7]. Kết quả theo dõi lipid máu trong 3 ngày xác định sinh khả dụng beta-carotene chỉ đạt khoảng 11% khi ăn sống, nhưng vọt lên 75% khi được xào chín [7]. Mặc dù tỷ lệ chuyển hóa thành retinol từ cà rốt xào có giảm nhẹ, tổng sản lượng retinol cơ thể thu nhận được từ cà rốt xào vẫn cao gấp 6,5 lần so với ăn sống [7].

Bên cạnh đó, việc phối hợp chất béo nhũ hóa cũng cải thiện rõ rệt lượng vi chất vào máu. Nghiên cứu năm 2011 trên chuột và người cho thấy sốt mayonnaise giúp giải phóng carotenoid hiệu quả hơn dầu thực vật [8]. Trong thử nghiệm lâm sàng trên 9 nam giới trưởng thành sử dụng ngẫu nhiên 4 bữa ăn (cà rốt đối chứng, nước ép, cà rốt kèm dầu, hoặc cà rốt trộn mayonnaise), diện tích dưới đường cong biến thiên nồng độ beta-carotene huyết thanh sau ăn (đo tại 2, 3, 4, 6 và 8 giờ) ở nhóm dùng mayonnaise cao vượt trội so với nhóm đối chứng và nhóm uống nước ép [8]. Nguyên nhân được xác định là nhờ đặc tính nhũ hóa của lòng đỏ trứng trong sốt mayonnaise giúp phân tán hạt dưỡng chất [8].

Để hấp thu tốt nhất nguồn provitamin A từ cà rốt, bạn nên:

  • Chế biến chín bằng cách xào nhẹ với một chút dầu ăn hoặc nấu chín mềm trong các món súp, canh để phá vỡ vách tế bào [7].
  • Kết hợp cà rốt bào sợi trong các món salad có bổ sung sốt béo chứa trứng như mayonnaise để tăng sinh khả dụng [8].
  • Duy trì khẩu phần vừa phải, luân phiên cùng các loại rau củ khác như bông cải xanh nhằm tránh cạnh tranh hấp thu lutein [5].

Cà rốt là thực phẩm giàu dinh dưỡng, cung cấp tiền chất vitamin A giúp bảo vệ tế bào võng mạc và ngăn ngừa chứng quáng gà. Tuy nhiên, loại củ này không thể làm giảm độ cận hay thay thế các phương pháp chỉnh quang y khoa. Để quản lý cận thị hiệu quả, người bệnh cần đi khám chuyên khoa mắt định kỳ, đeo kính đúng độ, kết hợp lối sống lành mạnh và chế độ ăn uống đa dạng.