Đậu nành và nỗi lo ung thư đường tiêu hóa
Các sản phẩm từ đậu nành như đậu phụ, sữa đậu nành, tương miso từ lâu đã là món ăn quen thuộc trong bữa cơm của người Việt. Nhiều người truyền tai nhau rằng ăn nhiều đậu nành giúp thanh lọc cơ thể và ngăn chặn các khối u ác tính ở đường ruột. Tuy nhiên, không ít người vẫn băn khoăn liệu thói quen này có thực sự bảo vệ đường tiêu hóa hay không.
Câu trả lời từ các bằng chứng khoa học hiện tại là: thực phẩm đậu nành có tiềm năng hỗ trợ giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng, nhưng hiệu quả này không đồng đều mà phụ thuộc lớn vào giới tính, phương pháp chế biến và loại hoạt chất tiếp nhận. Đáng chú ý, ăn đậu nành luộc, hấp mang lại tác động khác hẳn so với việc dung nạp các món đậu chiên rán ngập dầu mỡ.
Cơ chế sinh học của isoflavone trong đậu nành
Đậu tương và các chế phẩm từ đậu là nguồn cung cấp dồi dào các hợp chất isoflavone, vốn được xếp vào nhóm phytoestrogen thực vật [5, 8]. Cấu trúc diphenolic của isoflavone tương tự cấu trúc của 17beta-estradiol, cho phép chúng liên kết trực tiếp với các thụ thể estrogen alpha và beta trong cơ thể [1].
Tại ống nghiệm, các nghiên cứu sinh học nhận thấy isoflavone thể hiện hoạt tính chống ung thư đa dạng như ức chế quá trình phosphoryl hóa tyrosine protein, kích hoạt chết tế bào theo chương trình (apoptosis), chống tăng sinh mạch máu và ức chế enzym DNA topoisomerase [2]. Đậu nành còn chứa các hóa chất thực vật chống ung thư khác gồm axit phenolic, sterol thực vật và chất ức chế protease [3].
Cơ chế tác động của isoflavone lên thụ thể estrogen cũng thay đổi tùy thuộc môi trường nội tiết tố. Thử nghiệm in vitro cho thấy isoflavone đóng vai trò như chất đối kháng estrogen khi nồng độ estradiol ở mức cao (thời kỳ tiền mãn kinh), nhưng lại hoạt động như một chất chủ vận estrogen trong môi trường nồng độ hormone thấp tương đương huyết thanh phụ nữ sau mãn kinh [1]. Trong các thử nghiệm trên động vật, đậu nành hoặc isoflavone ức chế hình thành các ổ tuyến ẩn bất thường, dù chưa chứng minh rõ ràng khả năng ngăn chặn hoàn toàn khối u hình thành do hóa chất [2].
Các nghiên cứu thuần tập và đối chứng nói gì?
Bức tranh dịch tễ học về mối liên quan giữa đậu nành và ung thư ruột kết có nhiều kết quả đa chiều:
Tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2010 thực hiện trên 4 nghiên cứu thuần tập và 7 nghiên cứu bệnh chứng ghi nhận mức tiêu thụ đậu nành chung không liên quan có ý nghĩa thống kê tới nguy cơ ung thư đại trực tràng tổng thể (tỷ số nguy cơ gộp 0,90; 95% CI: 0,79-1,03), ung thư kết tràng (0,88; 95% CI: 0,74-1,06) hay trực tràng (0,88; 95% CI: 0,67-1,14) [4]. Dù vậy, khi bóc tách theo giới tính, tiêu thụ đậu nành giúp giảm khoảng 21% nguy cơ ung thư đại trực tràng ở nữ giới (tỷ số gộp 0,79; 95% CI: 0,65-0,97; P = 0,026), trong khi nam giới không ghi nhận tác dụng bảo vệ này (tỷ số gộp 1,10; 95% CI: 0,90-1,33) [4].
Một nghiên cứu thuần tập tiến cứu năm 2009 theo dõi phụ nữ trong thời gian trung bình 6,4 năm, phát hiện 321 ca mắc mới gồm 195 ca ung thư đại tràng và 126 ca ung thư trực tràng [5]. Nhóm phụ nữ tiêu thụ thực phẩm đậu nành cao nhất giảm nguy cơ mắc bệnh so với nhóm thấp nhất với nguy cơ tương đối RR là 0,71 (95% CI: 0,53-0,95; P xu hướng = 0,02) [5]. Phân tích hồi quy spline bậc ba ghi nhận đường cong tuyến tính xấp xỉ, cứ tăng thêm 5 gam thực phẩm đậu nành khô mỗi ngày (tương đương khoảng 1 oz đậu phụ) giúp giảm 8% nguy cơ tương đối (95% CI: 3%-14%) [5]. Khi phân tích trên phân nhóm 62.401 phụ nữ hoàn thành cả hai bảng hỏi tần suất thực phẩm, nhóm ăn nhiều nhất đạt RR là 0,63 (95% CI: 0,44-0,92) [5]. Hiệu quả giảm nguy cơ tương tự cũng xuất hiện khi tính riêng lượng protein đậu nành (RR = 0,66; 95% CI: 0,49-0,89) và isoflavone (RR = 0,76; 95% CI: 0,56-1,01) [5].
Tại Nhật Bản, nghiên cứu thuần tập tiến cứu năm 2008 trên 83.063 người từ 45-74 tuổi theo dõi từ năm 1995/1998 đến hết năm 2004 phát hiện 886 ca mắc ung thư mới (291 ca đại tràng gần, 286 ca đại tràng xa, 277 ca trực tràng) [6]. Kết quả cho thấy tiêu thụ isoflavone, súp miso và đậu nành nói chung không tạo ra thay đổi lớn trên nguy cơ ung thư đại trực tràng của cả hai giới [6]. Tuy nhiên, xét theo vị trí giải phẫu, nam giới ăn lượng isoflavone, súp miso và thực phẩm đậu nành cao nhất giảm rõ rệt nguy cơ ung thư đại tràng gần so với nhóm ăn thấp nhất, với tỷ số nguy cơ lần lượt là 0,55 (95% CI: 0,33-0,92), 0,72 (95% CI: 0,43-1,21) và 0,51 (95% CI: 0,30-0,87) [6]. Ngược lại, tổn thương ở đại tràng xa hay trực tràng ở nam và toàn bộ các vị trí ở nữ giới không thể hiện mối liên hệ bảo vệ [6].
Dữ liệu phân tích gộp năm 2016 trên 17 nghiên cứu dịch tễ (gồm 13 nghiên cứu bệnh chứng và 4 nghiên cứu thuần tập) cho thấy tiêu thụ isoflavone đậu nành giúp giảm nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng với RR là 0,78 (95% CI: 0,72-0,85) [3]. Lợi ích bảo vệ này thể hiện rõ ràng ở nhóm dùng thực phẩm/chế phẩm đậu nành (RR = 0,79; 95% CI: 0,69-0,89), ở quần thể người châu Á (RR = 0,79; 95% CI: 0,72-0,87) và trong các nghiên cứu bệnh chứng (RR = 0,76; 95% CI: 0,68-0,84) [3].
Nhiều ghi nhận khác từ khu vực châu Á cũng chỉ ra mối liên hệ khác biệt theo giới và vị trí khối u. Nghiên cứu bệnh chứng tại Hồng Kông ghi nhận phụ nữ ăn sản phẩm đậu nành từ 4 lần trở lên mỗi tuần giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng với OR là 0,47 (95% CI: 0,28-0,81), trong khi nam giới không đạt ý nghĩa thống kê (OR = 0,66; 95% CI: 0,40-1,08) [1]. Một nghiên cứu thuần tập Trung Quốc cho thấy giảm nguy cơ chỉ biểu hiện rõ ở phụ nữ sau mãn kinh và ở vị trí trực tràng [1]. Dẫu vậy, nghiên cứu tiến cứu năm 2008 trên người gốc Hoa tại Singapore lại không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa nào giữa thực phẩm đậu nành và nguy cơ ung thư đại trực tràng [7].
Cảnh báo từ tỷ lệ polyp đại trực tràng và cách chế biến
Polyp và u tuyến là những tổn thương tiền ung thư thường gặp. Năm 2024, nghiên cứu cắt ngang dựa trên dữ liệu ban đầu của đoàn hệ Lanxi (LP3C) tại vùng có nguy cơ ung thư cao ở Trung Quốc với 14.903 người tham gia từ 40-80 tuổi đã phát hiện 4.942 ca polyp và 2.678 ca u tuyến đại trực tràng qua nội soi [8].
Kết quả cho thấy lượng tiêu thụ đậu nành tổng thể có mối liên quan thuận với sự xuất hiện của polyp và u tuyến [8]. Đậu nành ăn nhiều liên quan tới polyp kích thước lớn, đa polyp, polyp theo phân loại Yamade nhỏ hơn cấp độ II và xuất hiện ở mọi phân đoạn giải phẫu của đại trực tràng [8].
Đáng chú ý, phân tích cách thức chế biến cho thấy nguy cơ polyp tăng lên chủ yếu gắn liền với việc tiêu thụ các món đậu nành chiên rán [8]. Trong khi đó, đậu nành luộc hoặc đậu nành ngâm/ướp gia vị không làm tăng nguy cơ hình thành polyp [8]. Do đó, cách thức đun nấu đóng vai trò quyết định, tránh các món đậu nành chiên ngập dầu là giải pháp cần thiết để bảo vệ đường ruột [8].
Hiểu lầm thường gặp và giới hạn bằng chứng
Nhiều người lầm tưởng ăn càng nhiều đậu nành ở bất kỳ dạng chế biến nào cũng giúp phòng ngừa tuyệt đối ung thư ruột. Thực tế khoa học chỉ ra hiệu quả bảo vệ không đồng nhất, chịu ảnh hưởng từ giới tính, cơ chế nội tiết tố nữ và phương pháp chế biến món ăn [1, 4, 7].
Các bằng chứng hiện tại vẫn còn hạn chế. Nhiều nghiên cứu dịch tễ trước đây chỉ đo lường tần suất sử dụng một số loại đậu nành chọn lọc, dẫn tới việc ước tính tổng lượng tiêu thụ chưa thực sự chuẩn xác [2]. Hơn nữa, kết quả phân tích gộp năm 2016 tuy khả quan nhưng số lượng công trình phân tích còn hạn chế nên chưa thể loại trừ hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu khác [3]. Do đó, đậu nành chỉ là một phần của chế độ dinh dưỡng, không thể xem là phương thuốc chữa trị hay giải pháp phòng ngừa thay thế cho thăm khám chuyên khoa.
Ai nên thận trọng khi dùng đậu nành?
Người có tiền sử polyp đại trực tràng, gia đình có nguy cơ cao hoặc đang phát hiện khối u đường ruột cần thận trọng với các chế phẩm đậu nành chiên ngập dầu mỡ [8]. Thói quen này làm tăng khả năng phát triển các khối polyp mới [8].
Nam giới không nên quá kỳ vọng vào việc tiêu thụ đậu nành nhằm ngăn chặn khối u đường ruột toàn diện, bởi dữ liệu gộp không ghi nhận hiệu quả bảo vệ rõ rệt ở phái mạnh [4]. Phụ nữ có rối loạn nội tiết tố hoặc người có bệnh nền đường tiêu hóa mạn tính nên tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để xây dựng thực đơn phù hợp với thể trạng.
Gợi ý áp dụng đậu nành an toàn vào bữa ăn
Để khai thác tối đa lợi ích của đậu nành và giảm thiểu tác hại tiềm ẩn, người tiêu dùng nên lưu ý:
- Phương pháp chế biến: Ưu tiên đậu luộc, hấp, dùng súp miso hoặc ngâm tương, tuyệt đối hạn chế đậu phụ chiên rán nhiều dầu mỡ [3, 4].
- Lượng dùng: Một mức tăng khoảng 5 gam đậu nành khô mỗi ngày (tương đương gần 28 gam hay 1 oz đậu phụ) đã được ghi nhận giảm 8% nguy cơ tương đối ở phụ nữ [5]. Bạn có thể bổ sung xen kẽ vào các bữa ăn trong tuần thay vì ăn dồn dập [2, 7].
- Kết hợp đa dạng: Xây dựng khẩu phần ăn cân bằng, phối hợp đậu nành với nhiều rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt và duy trì lối sống vận động đều đặn để bảo vệ toàn diện hệ tiêu hóa.
Đậu nành là nguồn dưỡng chất thực vật tuyệt vời cho sức khỏe. Khi được chế biến lành mạnh qua phương pháp luộc, hấp thay vì chiên rán, thực phẩm đậu nành sẽ phát huy giá trị hỗ trợ giảm nguy cơ bệnh tật, đặc biệt là ở đối tượng phụ nữ.





