Nhiều thai phụ thường bỏ qua bữa sáng do ốm nghén, mệt mỏi hoặc thói quen dậy muộn. Hành động nhịn ăn sau một đêm dài tưởng chừng vô hại nhưng lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khỏe của mẹ và thai nhi.

Bỏ bữa sáng kéo dài thời gian nhịn ăn, khiến cơ thể thai phụ dễ rơi vào trạng thái hạ đường huyết và gia tăng thể ceton (ketosis). Đây là phản ứng nguy hiểm cho sự phát triển của thai kỳ do cơ chế điều hòa chuyển hóa bị suy giảm đặc thù khi mang thai.

Nguy cơ nhiễm toan ceton và hạ đường huyết khi nhịn ăn kéo dài

Khi mang thai, nhu cầu tiêu thụ năng lượng và dưỡng chất của thai nhi diễn ra liên tục cả ngày lẫn đêm. Khoảng thời gian từ bữa tối hôm trước đến sáng hôm sau vốn đã là một đợt nhịn ăn tự nhiên kéo dài từ 8 đến 10 tiếng.

Nếu thai phụ tiếp tục bỏ qua bữa sáng, thời gian nhịn ăn bị kéo dài bất thường. Khi nguồn dự trữ glycogen cạn kiệt, cơ thể buộc phải phân giải mô mỡ để tạo năng lượng, giải phóng lượng lớn các thể ceton như beta-hydroxybutyrate vào máu. Nồng độ ceton tăng cao kéo dài sẽ dẫn tới tình trạng nhiễm toan ceton (ketosis), đe dọa trực tiếp môi trường sống của bào thai.

Nghiên cứu trên mô hình động vật mang thai thức tỉnh ghi nhận khi ở trạng thái nhịn ăn, nồng độ beta-hydroxybutyrate tăng khoảng 170% [1]. Đồng thời, phản ứng tiết glucagon để chống hạ đường huyết bị ức chế hoàn toàn (p < 0,01) [1]. Hormone epinephrine cũng bị suy giảm khoảng 70-75% ở cả hai mức thử nghiệm hạ đường huyết [1]. Điều này cho thấy thai kỳ làm suy giảm nghiêm trọng cơ chế tự bảo vệ chống hạ đường huyết khi cơ thể bị bỏ đói [1].

Nghiên cứu chỉ ra rủi ro dinh dưỡng và thiếu máu ở thai phụ

Việc bỏ bữa sáng không chỉ ảnh hưởng đến đường huyết mà còn làm suy giảm chất lượng dinh dưỡng của người mẹ.

Tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2023 dẫn lại hai nghiên cứu cắt ngang tại Ethiopia cho thấy việc bỏ bữa khi mang thai làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng lên 3,9 lần (OR = 3,9; KTC 95%: 1,09 - 13,53) [2]. Bỏ bữa cũng liên quan chặt chẽ đến nguy cơ thiếu máu thiếu sắt với tỷ suất rủi ro RR = 1,29 (KTC 95%: 1,05 - 1,57) [2].

Một nghiên cứu cắt ngang khác tại Nhật Bản so sánh 37 phụ nữ mang thai khỏe mạnh bỏ bữa sáng từ 2 lần trở lên mỗi tuần với 60 thai phụ ăn sáng đều đặn [2]. Kết quả chỉ ra nhóm bỏ ăn sáng có lượng tiêu thụ protein thấp hơn sau khi hiệu chỉnh theo năng lượng (p = 0,019) [2].

Ngoài ra, nhóm bỏ bữa sáng này còn có nồng độ axit docosahexaenoic (DHA) huyết tương thấp hơn (p = 0,027), nồng độ axit eicosapentaenoic (EPA) huyết tương thấp hơn (p = 0,008), và beta-carotene huyết thanh thấp hơn (p = 0,013) [2]. Nồng độ nitơ urê trong nước tiểu và kali nước tiểu cũng giảm đáng kể với p lần lượt là 0,027 và 0,006 [2].

Bỏ bữa sáng làm tăng nguy cơ tiểu đường thai kỳ và giữ cân sau sinh

Một hiểu lầm phổ biến là nhịn ăn sẽ giúp kiểm soát đường huyết và tránh tăng cân quá mức. Thực tế khoa học lại ghi nhận điều ngược lại.

Nghiên cứu trên phụ nữ mang thai Nhật Bản cho thấy tần suất bỏ bữa sáng càng cao thì tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ (GDM) càng tăng [2]. Cụ thể, so với người ăn sáng mỗi ngày, tỷ số chênh (OR) mắc GDM ở người bỏ bữa 1-2 lần/tuần là 1,09 (KTC 95%: 0,93 - 1,27); bỏ 3-4 lần/tuần là 1,14 (KTC 95%: 0,96 - 1,34); và bỏ 5-7 lần/tuần lên tới 1,21 (KTC 95%: 1,05 - 1,41) [2].

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, một nghiên cứu cắt ngang ghi nhận những người mẹ bỏ bữa trong thai kỳ có nguy cơ duy trì mức cân nặng thừa ở thời điểm 12-18 tháng sau sinh cao gấp 2,92 lần (KTC 95%: 1,33 - 6,45) so với người ăn uống đều đặn [2].

Nguy cơ rối loạn huyết áp thai kỳ và tiền sản giật

Không chỉ rối loạn đường huyết, việc nhịn bữa sáng còn liên quan mật thiết đến các biến chứng mạch máu nguy hiểm.

Nghiên cứu đoàn hệ ba thế hệ Tohoku Medical Megabank tại Nhật Bản trên 18.839 thai phụ cho thấy 74,3% phụ nữ ăn sáng hàng ngày và có 11,1% phát triển rối loạn tăng huyết áp thai kỳ (HDP) [3].

Những phụ nữ chỉ ăn sáng 0-2 lần mỗi tuần có nguy cơ mắc HDP cao hơn 1,33 lần (OR = 1,33; KTC 95%: 1,14 - 1,56) so với người ăn hàng ngày [3]. Nguy cơ tăng huyết áp mạn tính tăng 1,63 lần (OR = 1,63; KTC 95%: 1,21 - 2,19) và nguy cơ tiền sản giật tăng 1,68 lần (OR = 1,68; KTC 95%: 1,27 - 2,21) [3]. Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa bỏ ăn sáng với tăng huyết áp thai kỳ đơn thuần hay tiền sản giật thể nặng [3]. Đáng chú ý, phân tích phân tầng chỉ ra nguy cơ HDP do bỏ bữa sáng thể hiện rõ nhất ở nhóm có tổng mức năng lượng nạp vào hàng ngày cao nhất [3].

Ảnh hưởng tới nhịp sinh học hormone và môi trường của thai nhi

Giờ giấc ăn uống đóng vai trò then chốt trong việc điều hòa đồng hồ sinh học của cơ thể người mẹ.

Nghiên cứu đoàn hệ MY-CARE năm 2022 tại Malaysia theo dõi 70 phụ nữ mang thai con so khỏe mạnh, lấy mẫu nước bọt 5 lần trong 24 giờ để đo melatonin và cortisol [4]. Kết quả ghi nhận có 23% thai phụ ở tam cá nguyệt thứ hai và 28% ở tam cá nguyệt thứ ba bỏ bữa sáng [4].

Những phụ nữ bỏ bữa sáng có nồng độ cortisol lúc thức dậy thấp hơn ở cả tam cá nguyệt thứ hai (beta = -0,33; p = 0,029) và tam cá nguyệt thứ ba (beta = -0,29; p = 0,044) [4]. Riêng trong tam cá nguyệt thứ hai, bỏ ăn sáng làm tăng biên độ dao động cortisol đáng kể (beta = 0,43; p = 0,003), gây rối loạn nhịp cortisol tự nhiên [4].

Nghiên cứu năm 2015 tại Mỹ chỉ ra rằng việc nhịn ăn làm giảm tính sẵn có của glucose, tạo ra môi trường bất lợi cho thai nhi [5]. Số liệu điều tra dân số Mỹ cho thấy phụ nữ có thời gian đi làm từ 90 phút trở lên có khả năng bỏ ăn sáng cao hơn 20 điểm phần trăm, và giảm 1,2 điểm phần trăm khả năng sinh con trai dưới 2 tuổi [5]. Nhịn ăn sáng thường xuyên quanh thời điểm thụ thai có thể làm giảm 6 điểm phần trăm xác suất sinh con trai [5].

Các yếu tố dẫn đến tình trạng bỏ ăn sáng ở thai phụ

Một nghiên cứu bệnh - chứng năm 2024 tại khu vực Gamo, miền Nam Ethiopia trên 116 phụ nữ bỏ bữa sáng và 232 người đối chứng chỉ ra nhiều rào cản khiến thai phụ nhịn ăn [6].

Phụ nữ bị ốm nghén có nguy cơ bỏ bữa sáng cao gấp 2,57 lần (AOR = 2,57; KTC 95%: 1,13 - 5,84) [6]. Kiến thức dinh dưỡng kém làm tăng nguy cơ bỏ bữa lên 2,89 lần (AOR = 2,89; KTC 95%: 1,29 - 6,47) [6]. Trình độ học vấn không chính quy làm tăng nguy cơ 3,92 lần (AOR = 3,92; KTC 95%: 1,75 - 8,78) và điều kiện kinh tế thấp làm tăng nguy cơ 2,93 lần (AOR = 2,93; KTC 95%: 1,12 - 7,68) [6].

Nguy cơ bỏ bữa sáng cũng tăng theo quy mô gia đình (AOR = 1,65 cho mỗi người tăng thêm; KTC 95%: 1,25 - 2,18) [6]. Ngược lại, nguy cơ này giảm khi chu vi vòng cánh tay tăng (AOR = 0,58; KTC 95%: 0,46 - 0,72) và khi tăng tần suất uống nước lá cà phê (AOR = 0,84; KTC 95%: 0,78 - 0,89) [6].

Tại Nhật Bản, dữ liệu từ hai nhóm thai phụ (1.051 người giai đoạn 1996-2001 và 1.022 người giai đoạn 2001-2006) cho thấy hành vi bỏ bữa sáng và có bạn đời hút thuốc đều liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng hút thuốc lá khi mang thai [7].

Giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện nay

Mặc dù có nhiều số liệu cảnh báo, phần lớn các nghiên cứu khảo sát mối liên hệ giữa việc bỏ bữa sáng và sức khỏe thai phụ đến nay vẫn là nghiên cứu cắt ngang [2].

Thiết kế cắt ngang chỉ ghi nhận được sự liên quan tại một thời điểm, chưa thể xác định chắc chắn mối quan hệ nhân quả tuyệt đối giữa việc bỏ bữa sáng với suy dinh dưỡng hay đái tháo đường thai kỳ [2]. Dữ liệu về cơ chế ức chế phản ứng glucagon và giảm tiết epinephrine khi hạ đường huyết chủ yếu được quan sát thực nghiệm trên động vật [1].

Đối với các thai phụ mắc GDM, nghiên cứu quan sát trên 129 ca sinh cho thấy 86% trường hợp kiểm soát tốt mao mạch trong chuyển dạ (3.3-7.2 mmol/L) mà không cần insulin, không ghi nhận ca hạ đường huyết hay nhiễm toan ceton nặng nào khi được quản lý y tế [8]. Nguy cơ hạ đường huyết sơ sinh liên quan chủ yếu đến việc dùng insulin trong thai kỳ so với kiểm soát bằng chế độ ăn (60,5% so với 29,5%; p = 0,02) [8].

Nhóm thai phụ cần đặc biệt thận trọng

Thai phụ đang điều trị đái tháo đường thai kỳ bằng insulin hoặc thuốc hạ đường huyết cần tuyệt đối tránh nhịn bữa sáng để ngăn ngừa hạ đường huyết đột ngột và ketosis.

Những người có tiền sử tăng huyết áp hoặc có nguy cơ tiền sản giật cần duy trì năng lượng đều đặn để tránh kích hoạt các biến chứng tim mạch [3].

Phụ nữ bị ốm nghén nặng, nôn ói nhiều vào buổi sáng không nên cố nhịn hoàn toàn mà cần tìm cách bổ sung năng lượng sớm để tránh cạn kiệt glycogen [6].

Hướng dẫn duy trì bữa sáng khoa học cho thai phụ

Để tránh rơi vào tình trạng đói kéo dài, thai phụ nên ăn sáng trong vòng 1 đến 2 giờ sau khi ngủ dậy.

Bữa ăn nên kết hợp hài hòa giữa carbohydrate phức hợp (yến mạch, ngũ cốc nguyên cám, khoai lang) để giải phóng đường từ từ, bổ sung đạm (trứng luộc, sữa hạt, thịt nạc) nhằm hỗ trợ tổng hợp protein và ổn định đường huyết [2].

Cần bổ sung các thực phẩm giàu axit béo thiết yếu như DHA và EPA từ cá béo, kết hợp rau củ giàu beta-carotene [2].

Nếu bị ốm nghén nặng vào đầu ngày, thai phụ có thể chia nhỏ bữa ăn: bắt đầu bằng một lát bánh mì khô, bánh quy ngũ cốc hoặc vài ngụm sữa ấm ngay khi vừa rời giường, sau đó bổ sung phần ăn chính khi cảm giác buồn nôn đã dịu bớt.

Việc duy trì bữa sáng đều đặn là giải pháp đơn giản giúp bảo vệ thai phụ trước nguy cơ hạ đường huyết, hạn chế nhiễm toan ceton và phòng ngừa biến chứng tim mạch. Thai phụ có bệnh lý chuyển hóa hoặc ốm nghén kéo dài cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để xây dựng thực đơn an toàn.