Dinh dưỡng khi mang thai luôn là mối quan tâm hàng đầu của các thai phụ, đặc biệt trước nỗi lo về biến chứng tiền sản giật. Nhiều người truyền tai nhau chế độ ăn DASH – vốn nổi tiếng giúp hạ huyết áp ở người bình thường – như một giải pháp bảo vệ thai kỳ an toàn. Liệu phương pháp này có thực sự ngăn ngừa được tiền sản giật hay không?
Câu trả lời ngắn gọn: Chế độ ăn DASH cho thấy tiềm năng giảm nguy cơ tiền sản giật rõ rệt ở thai phụ có nguy cơ cao (như mắc đái tháo đường thai kỳ, béo phì, tăng huyết áp mạn tính), nhưng bằng chứng trên dân số thai phụ nói chung lại chưa thực sự đồng nhất. Do đó, DASH là một hướng hỗ trợ dinh dưỡng tích cực nhưng không thể thay thế việc theo dõi y tế chặt chẽ.
Cơ chế tác động của chế độ ăn DASH với cơ thể mẹ bầu
Chế độ ăn DASH (Dietary Approaches to Stop Hypertension) tập trung vào ngũ cốc nguyên hạt, rau củ, trái cây, các loại hạt và sản phẩm từ sữa ít béo, đồng thời cắt giảm chất béo bão hòa và lượng natri dung nạp. Đối với phụ nữ mang thai, chế độ ăn này cung cấp nguồn khoáng chất phong phú như kali, canxi và magie, hỗ trợ tính đàn hồi của lòng mạch.
Các biến chứng rối loạn huyết áp thai kỳ thường liên quan mật thiết đến sự suy giảm chức năng mạch máu và kiểm soát đường huyết kém. Khi lượng đường và lượng muối trong máu được điều hòa ổn định, áp lực lên thành mạch cũng như tải trọng làm việc của bánh nhau sẽ giảm bớt, từ đó giúp hạn chế nguy cơ tổn thương cơ quan đích.
Nghiên cứu chỉ ra điều gì về hiệu quả của DASH?
Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2020 trên các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên (RCT) tìm kiếm đến tháng 10/2019 đã đánh giá tác động của DASH trên thai phụ có rối loạn chuyển hóa tim mạch như đái tháo đường thai kỳ, béo phì và tăng huyết áp [1]. Kết quả trên 6 nghiên cứu đủ điều kiện cho thấy chế độ ăn DASH giúp giảm đáng kể mức đường huyết lúc đói với mức chênh lệch trung bình có trọng số (WMD) là -6,239 mg/dl (KTC 95%: -11,915 đến -0,563, p = 0,031) [1]. Đáng chú ý, việc tuân thủ DASH làm giảm nguy cơ tiền sản giật thai kỳ (RR = 0,667; KTC 95%: 0,451 đến 0,987, p = 0,043), giảm tỷ lệ thai to trên 4000 g (RR = 0,294; KTC 95%: 0,120 đến 0,721, p = 0,043) và giảm tỷ lệ thai lớn hơn so với tuổi thai (RR = 0,452; KTC 95%: 0,211 đến 0,969, p = 0,041) [1]. Tuy nhiên, DASH không làm thay đổi chỉ số kháng insulin HOMA-IR (WMD = -1,038; p = 0,22), cũng không làm tăng hay giảm nguy cơ sinh mổ, đa ối, sinh non dưới 37 tuần hoặc thai nhỏ so với tuổi thai [1]. Chu vi vòng đầu sơ sinh trung bình (WMD = -0,807 cm; p = 0,001) và chỉ số thể trọng ponderal index (RR = -0,396 kg/m³; p = 0,000) ở nhóm DASH thấp hơn so với nhóm đối chứng [1].
Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên công bố năm 2019 thực hiện trên 85 thai phụ bị tăng huyết áp thai kỳ và tăng huyết áp mạn tính (44 người nhóm DASH, 41 người nhóm đối chứng) theo dõi đến lúc sinh [2]. Kết quả ghi nhận tỷ lệ mắc tiền sản giật, sinh non và trẻ nhẹ cân ở nhóm DASH thấp hơn nhóm đối chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) [2]. Tuổi thai khi sinh và chiều dài trẻ sơ sinh ở nhóm DASH cũng có sự khác biệt tích cực (p < 0,05), dù không thấy khác biệt về phương thức sinh, băng huyết sau sinh, huyết áp sau sinh, cân nặng trung bình hay điểm Apgar sơ sinh (p > 0,05) [2].
Nghiên cứu bệnh - chứng công bố năm 2020 tại Bệnh viện số 1 Đại học Trịnh Châu (Trung Quốc) giai đoạn 2016-2019 trên các thai phụ đơn thai sau tuần 28 cũng cho thấy mối liên quan nghịch giữa mức độ tuân thủ chế độ ăn kiểu DASH và tỷ lệ mắc tiền sản giật [3]. Tại đây, tiền sản giật được chẩn đoán khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc tâm trương ≥ 90 mmHg sau tuần 20 kèm protein niệu ≥ 0,3 g/24 giờ (hoặc tỷ lệ protein/creatinine ≥ 0,3) hoặc có tổn thương cơ quan đích [3].
Một nghiên cứu dọc tiến cứu năm 2021 trên 1.887 thai phụ thuộc nghiên cứu Fetal Growth Studies-Singletons theo dõi thói quen ăn uống bằng FFQ tuần 8-13 và nhắc lại khẩu phần 24 giờ ở tuần 16-22 và 24-29 [4]. Điểm DASH cao hơn ở tuần 8-13 (RR hiệu chỉnh: 0,45; KTC 95%: 0,17 đến 1,17; P-xu hướng = 0,04) và tuần 16-22 (RR hiệu chỉnh: 0,19; KTC 95%: 0,05 đến 0,65; P-xu hướng = 0,01) gắn liền với việc giảm nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ [4]. Đồng thời, điểm DASH ở tuần 24-29 cũng liên quan đến giảm nguy cơ sinh non (RR hiệu chỉnh: 0,50; KTC 95%: 0,26 đến 0,96; P-xu hướng = 0,03) [4].
Bằng chứng trái chiều: Khi DASH không làm giảm tiền sản giật
Trái ngược với nhóm thai phụ có nguy cơ cao, kết quả trên các quần thể dân số rộng lớn lại không đồng nhất. Nghiên cứu đoàn hệ lớn năm 2020 theo dõi 66.651 thai kỳ đơn thai từ 62.774 phụ nữ Đan Mạch đánh giá qua bảng hỏi tuần 25, ghi nhận 1.809 ca rối loạn huyết áp thai kỳ (trong đó 1.310 ca tiền sản giật gồm 300 ca nặng và 499 ca tăng huyết áp thai kỳ) [5]. Kết quả cho thấy mức độ tuân thủ điểm DASH nói chung không liên quan đến nguy cơ rối loạn huyết áp thai kỳ [5]. Tuy nhiên, khi tách riêng từng thành phần, lượng natri nạp vào liên quan tuyến tính thuận rõ rệt: phụ nữ tiêu thụ natri cao nhất (trung vị 3,70 g/ngày) có nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ cao hơn 54% (KTC 95%: 16% đến 104%) và nguy cơ tiền sản giật cao hơn 20% (KTC 95%: 1% đến 42%) so với nhóm tiêu thụ thấp nhất (trung vị 2,60 g/ngày) [5]. Lượng ngũ cốc nguyên hạt cũng liên quan thuận với nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ nhưng không liên quan tiền sản giật [5].
Nghiên cứu đoàn hệ năm 2021 trên 3.414 phụ nữ Hà Lan thuộc nhóm nguy cơ thấp chỉ ra rằng điểm DASH cao hơn có liên quan đến huyết áp tâm trương thấp hơn ở giữa thai kỳ và chỉ số xung động động mạch rốn thấp hơn ở giữa và cuối thai kỳ (p ≤ 0,05), nhưng không liên quan đến huyết áp tâm thu hay sức cản động mạch tử cung, và không làm giảm tỷ lệ rối loạn huyết áp thai kỳ [6]. Tương tự, dữ liệu từ 1.760 phụ nữ trong nghiên cứu Project Viva (Mỹ) công bố năm 2018 kết luận điểm ăn uống DASH không gắn với việc giảm rối loạn huyết áp thai kỳ, đái tháo đường thai kỳ hay kích thước sơ sinh, ngược lại còn thấy tăng cân thai kỳ ở nhóm phụ nữ béo phì [7].
Nghiên cứu cắt ngang năm 2021 trên 225 ca tăng huyết áp thai kỳ tại một bệnh viện giảng dạy cho thấy 81,8% ăn chế độ hỗn hợp, 50,2% có ăn thêm muối và 25,3% ăn mỡ nhìn thấy được [8]. Mối liên quan giữa loại chế độ ăn (chay hay không) với tăng huyết áp thai kỳ không có ý nghĩa thống kê, nhưng thói quen tiêu thụ chất béo thấy được thì có liên quan rõ rệt [8].
Hiểu lầm thường gặp về chế độ ăn DASH ở thai phụ
Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn DASH là có thể loại bỏ hoàn toàn nguy cơ tiền sản giật mà không cần theo dõi y tế. Tiền sản giật là bệnh lý đa yếu tố phức tạp liên quan đến sự phát triển của mạch máu bánh nhau và phản ứng miễn dịch. Dinh dưỡng chỉ là một phần hỗ trợ kiểm soát huyết áp và chuyển hóa, không thể thay thế cho việc khám thai định kỳ.
Một hiểu lầm khác là càng kiêng muối tuyệt đối càng tốt. Việc giảm natri quá mức trong thai kỳ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thể tích tuần hoàn và sự phát triển của thai nhi. Nghiên cứu cho thấy mức tiêu thụ natri quá cao (trên 3,7 g/ngày) làm tăng nguy cơ tiền sản giật [5], do đó việc kiểm soát muối ở mức vừa phải theo khuyến cáo là hợp lý, tránh việc cắt bỏ hoàn toàn natri một cách cực đoan.
Ai nên thận trọng khi áp dụng DASH?
Nhóm phụ nữ có bệnh lý nền về tim mạch, đái tháo đường hoặc tăng huyết áp mạn tính là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ DASH nhưng cũng cần được bác sĩ giám sát liều lượng dinh dưỡng kỹ lưỡng nhất [1], [2]. Nếu áp dụng một cách tự phát, thai phụ dễ bị thiếu hụt năng lượng cần thiết cho thai kỳ.
Những thai phụ có vấn đề về chức năng thận hoặc bệnh lý chuyển hóa cần tham khảo ý kiến chuyên gia dinh dưỡng và bác sĩ sản khoa trước khi thay đổi thực đơn. Tăng cường đột ngột các loại hạt hoặc rau quả giàu kali có thể không phù hợp với người bị suy giảm chức năng thận.
Hướng dẫn áp dụng thực tế cho thai phụ
Thai phụ nên từng bước điều chỉnh chế độ ăn theo hướng tăng cường thực phẩm tươi, giảm thiểu thức ăn chế biến sẵn chứa lượng muối ẩn cao. Việc kiểm soát lượng natri không vượt quá mức cao là yếu tố then chốt giúp bảo vệ thành mạch [5].
Ưu tiên các nguồn protein nạc, các loại đậu, rau xanh lá đậm và sữa ít béo. Hạn chế tối đa các nguồn chất béo nhìn thấy được từ mỡ động vật và đồ ăn vặt đóng gói sẵn [8]. Mọi sự thay đổi chế độ ăn cần đi kèm với việc theo dõi chỉ số huyết áp tại nhà và thăm khám thai định kỳ.
Tóm lại, chế độ ăn DASH mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong việc cải thiện huyết áp và giảm nguy cơ tiền sản giật ở nhóm thai phụ có rối loạn chuyển hóa tim mạch hoặc có nguy cơ cao. Tuy nhiên, trên toàn bộ thai phụ nói chung, DASH không phải là chiếc khiên bảo vệ tuyệt đối. Chế độ ăn lành mạnh cần được kết hợp cùng việc chăm sóc y tế chuyên nghiệp để đảm bảo an toàn tối đa cho mẹ và bé.










