Nhiều thai phụ dừng uống axit folic ngay khi kết thúc tuần thai thứ 12 do nghĩ vi chất này chỉ giúp ngừa dị tật ống thần kinh. Thói quen dừng thuốc đột ngột này tạo ra khoảng trống dưỡng chất trong giai đoạn thai nhi tăng tốc phát triển.
Thực tế, mẹ bầu nên duy trì bổ sung folate liều thấp sau tam cá nguyệt đầu tiên. Việc duy trì giúp ngăn ngừa thiếu máu, kiểm soát nồng độ homocysteine và giảm tỷ lệ sinh non hiệu quả [1, 5, 7].
Nhu cầu vi chất tăng cao và nguy cơ thiếu máu
Bước sang tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba, thể tích tuần hoàn của cơ thể mẹ tăng nhanh để nuôi dưỡng thai nhi. Sự mở rộng thể tích máu đòi hỏi nguồn nguyên liệu tạo máu dồi dào, đặc biệt là sắt và folate.
Một nghiên cứu công bố năm 2024 theo dõi 60 phụ nữ mang thai con so cho thấy có sự suy giảm rõ rệt các chỉ số tạo máu theo tuổi thai [1]. Nồng độ huyết sắc tố (hemoglobin) giảm từ 11,40 g/dl ở tam cá nguyệt thứ nhất xuống còn 10,43 g/dl ở tam cá nguyệt thứ ba [1]. Nồng độ axit folic trong huyết thanh cũng sụt giảm tương ứng từ 13,82 ng/ml xuống 11,77 ng/ml [1].
Cùng với folate, sắt huyết thanh giảm từ 109,73 microg/dl xuống 94,03 microg/dl và vitamin B12 giảm mạnh từ 255,92 pg/ml xuống 92,13 pg/ml vào cuối thai kỳ [1]. Nồng độ ferritin huyết thanh cũng giảm từ 24,93 ng/ml xuống 18,21 ng/ml [1]. Nghiên cứu xác nhận mối tương quan thuận giữa nồng độ hemoglobin với sắt huyết thanh, ferritin, vitamin B12 và axit folic [1]. Khi thiếu hụt folate, quá trình tổng hợp hồng cầu bị ngưng trệ, làm tăng nguy cơ thiếu máu dinh dưỡng ở giai đoạn cuối thai kỳ [1].
Giảm nguy cơ sinh non và hỗ trợ cân nặng thai nhi
Duy trì folate suốt thai kỳ đem lại lợi ích lớn trong việc kéo dài tuổi thai và phòng ngừa đẻ non.
Một nghiên cứu dịch tễ học trên bộ dữ liệu HCCSCA (giai đoạn 1980–1996) đã so sánh kết quả sinh con của các thai phụ dùng vitamin với 7.319 phụ nữ không bổ sung làm nhóm đối chứng [2]. Nhóm dùng axit folic đơn độc gồm 6.293 người có tuổi thai trung bình dài hơn 0,3 tuần và cân nặng sơ sinh trung bình cao hơn 37 g so với nhóm đối chứng (nhóm đối chứng đạt 39,2 tuần và 3.216 g) [2]. Đáng chú ý, tỷ lệ sinh non ở nhóm bổ sung axit folic chỉ còn 7,6%, thấp hơn rõ rệt mức 11,8% của nhóm không dùng [2].
Đặc biệt, ở những thai phụ tiếp tục dùng axit folic đơn độc trong tam cá nguyệt thứ ba, tuổi thai trung bình dài hơn 0,6 tuần và tỷ lệ sinh non giảm sâu xuống chỉ còn 4,8% [2]. Dù cân nặng sơ sinh có tăng nhẹ, mức tăng này không gây tình trạng thai quá to nhưng mang lại giá trị sức khỏe cộng đồng rất lớn nhờ hạn chế nguy cơ sinh non [2]. Nghiên cứu cũng ghi nhận 169 thai phụ dùng đa vitamin và 311 thai phụ dùng phối hợp axit folic cùng đa vitamin trong khảo sát này [2].
Ở đối tượng thai phụ có hút thuốc lá, một nghiên cứu đoàn hệ tại Hà Lan trên 6.294 bà mẹ công bố năm 2011 cũng chỉ ra vai trò bảo vệ của vi chất này [3]. Hút thuốc liên tục trong thai kỳ làm giảm 44 g trọng lượng thai ở tam cá nguyệt thứ ba (95% CI: -57, -31) và giảm 148 g cân nặng lúc sinh (95% CI: -179, -118) [3]. Tuy nhiên, những thai phụ tiếp tục hút thuốc mà không dùng axit folic có nguy cơ sinh con nhẹ cân cao gấp 3,45 lần (OR = 3,45; 95% CI: 1,25–9,54) so với nhóm có dùng [3].
Kiểm soát homocysteine và phát triển thần kinh
Folate là thành phần thiết yếu tham gia chu trình chuyển hóa homocysteine – một loại axit amin trung gian. Nồng độ homocysteine tăng cao trong thai kỳ liên quan chặt chẽ đến các biến chứng nguy hiểm như tiền sản giật [4].
Nghiên cứu dọc năm 2005 đo lường chỉ số ở 101 thai phụ tại các tuần thai 12, 20, 35 cùng 35 phụ nữ không mang thai đối chứng (kèm nhóm phụ 21 thai phụ và 19 người đối chứng sau sinh 3 ngày) cho thấy diễn tiến rõ ràng [4]. Nồng độ homocysteine huyết tương chạm mức thấp nhất ở tam cá nguyệt thứ hai rồi tăng dần về mức bình thường trong tam cá nguyệt thứ ba [4]. Ở tam cá nguyệt thứ ba, thai phụ có tiền sử sảy thai có mức homocysteine cao hơn nhóm không có tiền sử (8,15 so với 6,38 micromol/L) [4].
Nghiên cứu năm 2005 khẳng định việc tiếp tục uống axit folic giúp giữ homocysteine ở mức thấp: nhóm có bổ sung đạt 5,45 micromol/L, thấp hơn mức 7,40 micromol/L ở nhóm không bổ sung [4]. Điều này chứng minh bổ sung folate liên tục giúp hạn chế tình trạng tăng homocysteine muộn trong thai kỳ [4].
Bên cạnh đó, việc bổ sung axit folic trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba còn dẫn tới thay đổi mức độ methyl hóa ADN trong máu cuống rốn của các gen phát triển não bộ như LINE-1, IFG2 và BDNF [5]. Một nghiên cứu trên 45.300 trẻ em cho thấy người mẹ dùng axit folic và đa vitamin trong thai kỳ có liên quan đến việc giảm nguy cơ rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ (RR = 0,27; 95% CI: 0,22–0,33) [5]. Bổ sung trước mang thai cũng ghi nhận giảm nguy cơ (RR = 0,39; 95% CI: 0,30–0,50) [5]. Lượng folate trong tam cá nguyệt thứ hai còn có tương quan thuận với sự phát triển của thai [5].
Cảnh giác mất cân bằng giữa folate và vitamin B12
Bổ sung folate đơn độc liều quá cao mà bỏ quên vitamin B12 có thể dẫn tới những tác động bất lợi cho thai nhi.
Một nghiên cứu đoàn hệ quan sát tiến cứu năm 2013 tại Nam Ấn Độ theo dõi 1.838 thai phụ đã phân tích tác động của sự mất cân bằng này [6]. Tỷ lệ thiếu hụt vitamin B12 (< 1,2 microg/ngày) ở tam cá nguyệt thứ nhất, hai và ba lần lượt là 25%, 11% và 10% [6]. Kết quả phân tích cho thấy khẩu phần ăn thiếu vitamin B12 và folate ở tam cá nguyệt đầu độc lập làm tăng nguy cơ sinh con nhỏ so với tuổi thai (SGA) [6].
Đáng chú ý, ở phân nhóm thai phụ dùng bổ sung axit folic liều cao trong tam cá nguyệt thứ hai, những người có tỷ lệ vitamin B12 so với folate ở mức thấp nhất (thiếu hụt B12 trong nền folate cao) có nguy cơ sinh con SGA cao gấp 2,73 lần (RR hiệu chỉnh: 2,73; 95% CI: 1,17–6,37) so với nhóm có tỷ lệ B12:folate cân bằng nhất [6]. Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận trong mẫu huyết thanh ngẫu nhiên gồm 316 người [6]. Vì vậy, việc lạm dụng folate liều cao mà không kiểm soát nồng độ B12 có thể cản trở sự phát triển của bào thai [6].
Ngoài ra, về khía cạnh dị ứng, một phân tích tổng quan năm 2017 cho thấy dùng axit folic trong tam cá nguyệt thứ ba có liên quan đến tăng nhẹ báo cáo về triệu chứng khò khè ở trẻ lúc 1 tuổi (tỷ lệ chênh hiệu chỉnh 1,20; 95% CI: 1,04–1,39), nhưng không ảnh hưởng sau 1 tuổi [7]. Nồng độ folate huyết tương mẹ ở tam cá nguyệt thứ nhất mức cao nhất cũng liên quan tăng nguy cơ viêm da cơ địa ở trẻ dưới hoặc bằng 4 tuổi (aOR: 1,18; 95% CI: 1,05–1,33) [7].
Những nhóm thai phụ cần lưu ý đặc biệt
Việc bổ sung vi chất cần cá nhân hóa dựa trên bệnh nền và tiền sử sản khoa.
- Phụ nữ có nguy cơ cao khiếm khuyết ống thần kinh (tiền sử mang thai dị tật ống thần kinh, rối loạn hấp thu, béo phì, đái tháo đường, hoặc dùng thuốc chống động kinh, thuốc đối kháng folate): Cần dùng liều cao 5 mg mỗi ngày từ 2 tháng trước thụ thai đến hết tam cá nguyệt thứ nhất theo chỉ định y khoa [5]. Sau thời gian này, cần hạ liều dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.
- Thai phụ ăn chay trường hoặc ăn thuần chay: Nguy cơ thiếu hụt vitamin B12 rất cao. Nhóm này không nên uống folate liều cao đơn độc để tránh tình trạng mất cân đối B12 và folate gây bất lợi cho sự phát triển của thai [6].
- Người hút thuốc lá: Cần được tư vấn bổ sung vi chất đầy đủ để giảm thiểu nguy cơ sinh con nhẹ cân, đồng thời bắt buộc phải cai thuốc [3].
Hướng dẫn bổ sung thực tế cho thai phụ
Để đảm bảo hiệu quả phòng ngừa thiếu máu và an toàn cho thai kỳ, thai phụ nên áp dụng các bước sau:
- Duy trì liều lượng thích hợp: Sau tuần thứ 12, thai phụ không cần dùng liều cao 5 mg (trừ khi có chỉ định riêng biệt) mà nên duy trì liều tiêu chuẩn thường quy. Không tự ý tăng liều bổ sung folate dạng đơn chất.
- Phối hợp đồng bộ vi chất: Cần bổ sung folate cùng lúc với sắt và vitamin B12 [2, 5]. Sự kết hợp này hỗ trợ tạo máu toàn diện và tránh nguy cơ suy dinh dưỡng bào thai [2, 5].
- Thời điểm uống: Nên uống viên vi chất cùng một cốc nước lọc vào buổi sáng hoặc trưa, tránh uống cùng trà và cà phê để không cản trở hấp thu vi chất.
- Dinh dưỡng tự nhiên: Tăng cường thực phẩm giàu folate tự nhiên như rau lá xanh thẫm, các loại đậu, trái cây có múi, song song với nguồn cung cấp B12 từ trứng, sữa, thịt nạc và cá.
Duy trì folate liều lượng hợp lý sau tuần thứ 12 là biện pháp an toàn giúp bảo vệ tuần hoàn mẹ và hỗ trợ thai nhi đủ ngày đủ tháng. Mẹ bầu cần thảo luận với bác sĩ chuyên khoa để xây dựng thực đơn và danh mục bổ sung vi chất cân bằng, phù hợp với từng thể trạng.












