Thời tiết giao mùa hoặc những đợt không khí lạnh tràn về là thời điểm nhiều người bắt đầu xuất hiện những biểu hiện quen thuộc như ngứa họng, hắt hơi và nghẹt mũi. Khi cơ thể bắt đầu có dấu hiệu mệt mỏi vì cảm lạnh, việc tìm kiếm các giải pháp bổ sung dinh dưỡng để nhanh khỏi ốm luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều gia đình.

Để rút ngắn thời gian mắc cảm lạnh, thời điểm vàng để bắt đầu bổ sung viên ngậm kẽm là ngay lập tức khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên, tốt nhất là trong vòng 24 giờ đầu phát bệnh [1], [2]. Việc can thiệp chậm trễ sau mốc thời gian này có thể làm giảm đáng kể hiệu quả hỗ trợ điều trị của vi chất này [2].

Cơn cảm lạnh thông thường và thói quen bổ sung vi chất

Cảm lạnh thông thường là bệnh lý nhiễm trùng đường hô hấp trên phổ biến nhất ở mọi lứa tuổi. Dù đa phần các trường hợp đều mang tính tự hạn chế, các triệu chứng như đau họng, chảy nước mũi, nghẹt mũi và ho dai dẳng thường gây cản trở lớn đến sinh hoạt, học tập cũng như công việc hàng ngày. Khi phát bệnh, phản xạ tự nhiên của nhiều người là tìm đến các loại vitamin C, thảo dược hoặc thuốc hạ sốt giảm đau để xoa dịu cảm giác khó chịu.

Trong những năm gần đây, việc sử dụng các chế phẩm kẽm đường ngậm họng đã nhận được sự quan tâm rộng rãi từ cộng đồng. Nhiều người có thói quen tích trữ sẵn các viên kẽm trong tủ thuốc gia đình để dùng mỗi khi thấy gai người. Tuy nhiên, không ít người vẫn sử dụng kẽm một cách tùy tiện, dùng ngắt quãng hoặc đợi đến khi các biểu hiện cảm cúm đã trở nên nặng nề mới nhớ ra để bổ sung. Điều này dẫn đến kết quả hồi phục không đồng đều, thậm chí gây ra tâm lý hoài nghi về vai trò thực sự của khoáng chất này.

Thời điểm vàng: Càng sớm càng mang lại hiệu quả tối ưu

Thời điểm bắt đầu sử dụng đóng vai trò quyết định đối với khả năng can thiệp vào diễn tiến của cơn cảm lạnh. Theo các tài liệu y khoa tổng quan, lợi ích của viên ngậm kẽm gluconate đạt mức tối đa nếu người bệnh bắt đầu ngậm ngay lập tức sau khi xuất hiện các triệu chứng khởi phát đầu tiên [2]. Các dấu hiệu sớm này có thể chỉ là cảm giác rát nhẹ ở vòm họng, một vài tiếng hắt hơi hoặc sự khó chịu thoáng qua ở đường thở.

Các phân tích dữ liệu gộp từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên cũng nhấn mạnh rằng người bệnh cảm lạnh nên bắt đầu dùng viên ngậm kẽm acetate trong vòng 24 giờ đầu tiên kể từ khi phát bệnh [1]. Việc can thiệp sớm trong ngày đầu tiên giúp tăng tốc độ bình phục của bệnh nhân lên gấp 3,1 lần so với nhóm không sử dụng [1]. Đến ngày thứ 5 của đợt ốm, tỷ lệ người dùng kẽm khỏi bệnh hoàn toàn đạt 70%, trong khi ở nhóm dùng giả dược con số này chỉ đạt 27% [1]. Điều này đồng nghĩa với việc số lượng bệnh nhân khỏi bệnh ở nhóm can thiệp cao hơn 2,6 lần [1].

Ngược lại, nếu người bệnh bỏ lỡ khung thời gian 24 giờ đầu và đợi đến khi virus đã nhân lên ồ ạt khắp niêm mạc đường hô hấp trên, hiệu quả ngăn chặn triệu chứng của kẽm sẽ suy giảm rõ rệt [2]. Khi bệnh đã bước sang ngày thứ ba hoặc thứ tư, các tổn thương viêm cục bộ đã hình thành sâu sắc, khiến việc bổ sung khoáng chất không còn mang lại sự thay đổi đáng kể về thời gian mang bệnh.

Cơ chế tác động tại chỗ của viên ngậm kẽm tại hầu họng

Sở dĩ viên ngậm kẽm mang lại tác động rõ rệt hơn so với các dạng viên uống nuốt thông thường là nhờ vị trí giải phóng vi chất. Sự quan tâm đến viên ngậm bắt đầu từ trường hợp một bé gái 3 tuổi mắc bệnh bạch cầu đã biến mất các triệu chứng cảm lạnh chỉ trong vài giờ sau khi ngậm tan từ từ một viên kẽm thay vì nuốt trọn theo chỉ dẫn [3]. Lợi ích thu được dường như đến từ việc viên thuốc tan chậm rãi trong khoang miệng [3].

Khi viên ngậm tan ra, các ion kẽm tự do được giải phóng và đạt nồng độ cao nhất tại vùng hầu họng của người bệnh [4]. Mặc dù cơ chế tác động chính xác của kẽm trong việc điều trị cảm lạnh thông thường vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ [5], sự hiện diện trực tiếp của các ion kẽm tự do tại niêm mạc họng được cho là yếu tố then chốt tạo nên hiệu quả ức chế [6], [4].

Đáng chú ý, các nghiên cứu cho thấy tác dụng của ion kẽm không chỉ giới hạn tại vùng hầu họng nơi viên thuốc tiếp xúc trực tiếp [4]. Mức độ cải thiện các triệu chứng ở mũi không hề thua kém các triệu chứng tại vòm họng, chứng minh rằng sự sẵn có của ion kẽm tạo ra tác động bao phủ lên toàn bộ hệ thống niêm mạc hô hấp trên [4].

Bằng chứng khoa học về khả năng rút ngắn số ngày ốm

Hiệu quả giảm thời gian mắc bệnh của viên ngậm kẽm đã được kiểm chứng qua nhiều thử nghiệm lâm sàng đối chứng giả dược nghiêm ngặt. Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược vào năm 1997, việc điều trị bằng viên ngậm kẽm gluconate cứ mỗi 2 giờ một lần trong suốt thời gian có triệu chứng đã giúp rút ngắn đáng kể thời gian mang bệnh [5]. Thời gian trung vị để các triệu chứng cảm lạnh biến mất hoàn toàn ở nhóm ngậm kẽm là 4,4 ngày, ngắn hơn rất nhiều so với mức 7,6 ngày ở nhóm dùng giả dược [5].

Một phân tích gộp vào năm 2017 tổng hợp từ 7 thử nghiệm ngẫu nhiên trên 575 người tham gia bị cảm lạnh tự nhiên cho thấy thời gian mắc bệnh trung bình ở nhóm dùng kẽm giảm tới 33% [3]. Nghiên cứu này ghi nhận rằng các viên ngậm sử dụng muối kẽm acetate giúp giảm 40% thời gian mắc cảm lạnh, trong khi các thử nghiệm dùng muối kẽm gluconate giúp giảm 28% thời gian [3]. Tuy nhiên, mức chênh lệch 12 điểm phần trăm giữa hai loại muối này không mang ý nghĩa thống kê, cho thấy viên kẽm gluconate nếu được bào chế đúng cách vẫn có thể đạt hiệu quả tương đương kẽm acetate [3].

Một phân tích gộp dữ liệu cá nhân khác vào năm 2016 trên 199 bệnh nhân cảm lạnh cũng cho thấy việc dùng viên ngậm kẽm acetate giúp rút ngắn đợt cảm lạnh khoảng 2,73 ngày theo mô hình một giai đoạn và 2,94 ngày theo mô hình hai giai đoạn, so với thời gian bệnh trung bình kéo dài 7 ngày [7]. Lợi ích này được ghi nhận nhất quán bất kể tình trạng dị ứng, thói quen hút thuốc, mức độ nặng ban đầu của bệnh, độ tuổi, giới tính hay chủng tộc của người bệnh [7], [1]. Ngoài ra, trong một nghiên cứu pha IV mở trên 134 trẻ từ 12 đến 18 tuổi, việc sử dụng viên ngậm kẽm gluconate glycine 4 lần mỗi ngày đã rút ngắn thời gian ốm trung bình xuống còn 6,9 ngày so với 9,0 ngày ở nhóm chứng [8].

Tác động trên từng triệu chứng và vai trò của dạng bào chế

Viên ngậm kẽm không tác động đồng đều lên tất cả các biểu hiện của cảm lạnh mà tập trung vào các triệu chứng đường hô hấp và đau mỏi toàn thân. Một phân tích gộp năm 2015 chỉ ra rằng viên ngậm kẽm acetate giúp rút ngắn thời gian chảy nước mũi 34%, nghẹt mũi 37%, hắt hơi 22%, ngứa họng 33%, đau họng 18%, khàn giọng 43% và ho 46% [4]. Đặc biệt, triệu chứng đau nhức cơ bắp giảm tới 54% thời gian kéo dài, tuy nhiên viên ngậm không tạo ra sự khác biệt nào đối với thời gian bị đau đầu và sốt [4].

Bên cạnh thời điểm dùng, công thức bào chế của viên ngậm đóng vai trò sống còn đối với hiệu quả điều trị. Lượng ion kẽm tự do giải phóng từ viên ngậm có mối tương quan rất chặt chẽ với việc rút ngắn thời gian mắc bệnh [6]. Hầu hết các loại viên ngậm có tiềm năng chữa cảm lạnh đều chỉ chứa một gốc phối tử như acetate hoặc gluconate nhằm giải phóng hàm lượng ion kẽm tự do cao [6]. Sự giảm thời gian ốm trung bình của các viên ngậm đơn phối tử đạt tới 3,37 ngày, trong khi các viên ngậm chứa nhiều phối tử gần như không mang lại tác dụng rút ngắn thời gian (giảm 0 ngày) [6].

Nhiều sản phẩm trên thị trường thất bại trong các thử nghiệm là do bổ sung các tá dược không phù hợp làm liên kết và bắt giữ ion kẽm [1], [6]. Điển hình là việc thêm axit citric hoặc axit tartaric vào thành phần để cải thiện mùi vị có thể làm giảm mạnh hiệu quả điều trị do xảy ra phản ứng tạo phức chelate giữ chặt ion kẽm, ngăn không cho chúng phát huy tác dụng sinh học [2].

Những hiểu lầm phổ biến khi bổ sung kẽm trị cảm

Một hiểu lầm rất phổ biến là quan niệm uống liều càng cao thì bệnh sẽ càng nhanh khỏi. Phân tích khoa học năm 2017 cho thấy các thử nghiệm dùng liều kẽm nguyên tố từ 80-92 mg/ngày giúp giảm 33% thời gian cảm, trong khi các thử nghiệm đẩy liều lên tới 192-207 mg/ngày chỉ đạt mức giảm 35% [3]. Sự chênh lệch 2 điểm phần trăm này hoàn toàn không có ý nghĩa thống kê, chứng minh rằng không có bằng chứng nào cho thấy dùng kẽm trên 100 mg/ngày mang lại hiệu quả điều trị cao hơn [3].

Hiểu lầm thứ hai là việc đánh đồng tổng lượng kẽm ghi trên nhãn hộp với hiệu quả thực tế. Nghiên cứu tổng quan năm 2009 khẳng định không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê nào giữa tổng lượng kẽm (bao gồm kẽm bị liên kết và kẽm tự do) với việc rút ngắn thời gian bệnh [6]. Nếu viên ngậm chứa lượng kẽm cao nhưng lại bị khóa chặt bởi các phụ gia liên kết, sản phẩm đó hoàn toàn không đem lại lợi ích lâm sàng [1], [6].

Cuối cùng, nhiều người lầm tưởng rằng kẽm có thể dùng để thay thế hoàn toàn các thuốc điều trị triệu chứng khác hoặc có thể loại bỏ ngay lập tức cơn sốt và đau đầu. Bằng chứng thực tế cho thấy kẽm không tác động lên thời gian sốt hay đau đầu [4], và người bệnh vẫn cần nghỉ ngơi, uống đủ nước thay vì chỉ phụ thuộc vào viên ngậm.

Nhóm người bệnh nào cần đặc biệt thận trọng?

Mặc dù các nghiên cứu với liều kẽm acetate khoảng 80-92 mg/ngày chỉ ghi nhận những tác dụng không mong muốn ở mức độ nhẹ và không có biến cố bất lợi nghiêm trọng [1], [4], việc sử dụng viên ngậm kẽm vẫn cần sự cẩn trọng nhất định ở một số đối tượng. Các tác dụng phụ phổ biến nhất thường gặp phải bao gồm cảm giác có vị khó chịu trong miệng, kích ứng niêm mạc miệng và cảm giác buồn nôn [2].

Những người có tiền sử viêm loét dạ dày tá tràng hoặc dạ dày nhạy cảm nên cẩn trọng, bởi việc ngậm kẽm lặp lại nhiều lần trong ngày có thể làm gia tăng cảm giác nôn nao hoặc khó chịu vùng thượng vị [2]. Người có cơ địa dễ dị ứng hoặc phản ứng với mùi vị nồng của khoáng chất cũng nên cân nhắc kỹ trước khi dùng liều cao liên tục.

Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và những người đang phải điều trị các bệnh lý nền mạn tính cần tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa trước khi quyết định bổ sung kẽm liều cao vượt ngưỡng khuyến nghị hàng ngày. Viên ngậm kẽm là biện pháp hỗ trợ tạm thời trong đợt cảm, không thể thay thế cho các chẩn đoán và chỉ định điều trị y khoa toàn diện từ bác sĩ.

Hướng dẫn sử dụng viên ngậm kẽm an toàn trong thực tế

Để khai thác tối đa lợi ích của viên ngậm kẽm khi có dấu hiệu cảm lạnh, người dùng cần tuân thủ các nguyên tắc khoa học về liều lượng và cách dùng. Ngay khi cơ thể bắt đầu có những biểu hiện ban đầu, hãy chọn các loại viên ngậm kẽm acetate hoặc kẽm gluconate đơn phối tử, tránh các sản phẩm có chứa axit citric hoặc axit tartaric trong danh sách tá dược [6], [2].

Về tần suất, trong các nghiên cứu lâm sàng mang lại hiệu quả cao, viên ngậm kẽm gluconate thường được sử dụng đều đặn mỗi 2 giờ một lần trong suốt thời gian xuất hiện triệu chứng cảm lạnh [5], hoặc chia làm 4 lần mỗi ngày đối với các chế phẩm kẽm gluconate glycine ở lứa tuổi thanh thiếu niên [8]. Tổng hàm lượng kẽm nguyên tố nạp vào cơ thể nên dao động trong khoảng 80 đến 92 mg mỗi ngày và không cần thiết phải vượt quá ngưỡng 100 mg mỗi ngày [3], [1].

Khi dùng, người bệnh cần để viên ngậm tan từ từ trong khoang miệng nhằm đảm bảo các ion kẽm được phân tán đều khắp vùng hầu họng, tuyệt đối không nhai nát hoặc nuốt chửng như các loại viên thuốc thông thường [3], [4]. Nếu xuất hiện cảm giác buồn nôn hoặc kích ứng miệng quá mức, cần tạm ngưng sử dụng hoặc giãn cách thời gian giữa các lần ngậm [2].

Viên ngậm kẽm là một giải pháp hỗ trợ đã được khoa học chứng minh giúp rút ngắn đáng kể thời gian mang bệnh cảm lạnh nếu được sử dụng đúng thời điểm trong 24 giờ đầu phát bệnh [1], [2]. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ phát huy hiệu quả khi kết hợp với lối sống lành mạnh, chế độ nghỉ ngơi đầy đủ, dinh dưỡng cân bằng và luôn cần có sự tư vấn của nhân viên y tế đối với những đối tượng đặc thù.