Cứ định kỳ vào tháng 6 và tháng 12 hằng năm, các trạm y tế trên toàn quốc lại rộn ràng chiến dịch cho trẻ uống vitamin A liều cao. Nhiều phụ huynh băn khoăn liệu một liều thuốc có hàm lượng dưỡng chất đậm đặc như vậy có thực sự cần thiết, hay có thể gây hại cho sự phát triển của con nhỏ.
Nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn trên thế giới cho thấy vitamin A liều cao giảm đáng kể nguy cơ tử vong do các biến chứng nhiễm trùng như viêm dạ dày ruột cấp tính [1]. Dù vậy, việc bổ sung dưỡng chất này cần thực hiện đúng phác đồ y tế, bởi tự ý dùng quá liều hoặc dùng sai nhóm tuổi có thể mang lại nhiều rủi ro cho sức khỏe trẻ.
Cơ chế bảo vệ miễn dịch của vitamin A
Vitamin A là vi chất dinh dưỡng thiết yếu tham gia vào việc duy trì tính toàn vẹn của tế bào biểu mô đường hô hấp và đường tiêu hóa. Khi thiếu vitamin A, các lớp niêm mạc bảo vệ này dễ bị tổn thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn và virus xâm nhập sâu vào cơ thể.
Vi chất này cũng đóng vai trò quyết định trong việc hỗ trợ hệ miễn dịch sản sinh kháng thể và thúc đẩy phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Khi được cung cấp đầy đủ, các đợt tiêu chảy cấp hoặc nhiễm trùng đường ruột thường ít nguy cơ diễn biến nặng dẫn đến tử vong [1].
Tuy nhiên, vitamin A là loại vitamin tan trong dầu, được tích lũy lâu dài tại gan. Khác với các vitamin tan trong nước dễ đào thải qua nước tiểu, nếu cơ thể hấp thu dồn dập lượng vitamin A vượt quá ngưỡng dự trữ của gan, trẻ có nguy cơ gặp hiện tượng ngộ độc cấp tính, bao gồm các triệu chứng chán ăn, nôn trớ hoặc phản ứng thần kinh.
Bằng chứng khoa học về việc giảm tỷ lệ tử vong
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo bổ sung vitamin A cho trẻ từ 6 đến 59 tháng tuổi vì bằng chứng thực nghiệm cho thấy biện pháp này giúp giảm tỷ lệ tử vong trẻ em [6, 7]. Hiệu quả bảo vệ sức khỏe này đã được ghi nhận qua nhiều cuộc thử nghiệm thực địa kéo dài ở các quốc gia đang phát triển.
Tại Indonesia, một thử nghiệm ngẫu nhiên triển khai tại cộng đồng ở miền bắc đảo Sumatra ghi nhận việc bổ sung vitamin A định kỳ 2 lần mỗi năm giúp giảm 34% tỷ lệ tử vong ở trẻ lứa tuổi mầm non [2]. Kết quả này mở ra hướng tiếp cận sức khỏe cộng đồng nhằm cải thiện cơ hội sống sót của trẻ nhỏ [2].
Tại Ghana, nhóm nghiên cứu Ghana VAST thực hiện thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược trên quy mô lớn để đánh giá tác động lâm sàng [1]. Thử nghiệm tỷ lệ tử vong theo dõi 21.906 trẻ từ 6 đến 90 tháng tuổi trong tối đa 26 tháng, dùng liều 200.000 IU (trẻ dưới 12 tháng dùng 100.000 IU) hoặc giả dược mỗi 4 tháng một lần [1]. Kết quả cho thấy nhóm uống vitamin A giảm 19% nguy cơ tử vong chung (tỷ số tỷ lệ tử vong 0,81; khoảng tin cậy 95% từ 0,68 đến 0,98) [1]. Đặc biệt, tỷ lệ tử vong do viêm dạ dày ruột cấp tính ở nhóm dùng vitamin A thấp hơn đáng kể so với nhóm giả dược (tỷ số 0,66; khoảng tin cậy 95% từ 0,47 đến 0,92) [1]. Số lượt trẻ phải nhập viện giảm rõ rệt với tỷ số 0,62 (khoảng tin cậy 95% từ 0,42 đến 0,93) và số lần khám phòng khám cũng giảm (tỷ số 0,88; khoảng tin cậy 95% từ 0,81 đến 0,95) [1].
Một phân tích gộp công bố năm 2017 tổng hợp dữ liệu từ 17 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trên 1.180.718 trẻ em dưới 5 tuổi với độ tuổi trung bình 31,5 tháng [3]. Phân tích chỉ ra bổ sung vitamin A giúp giảm 22% tỷ lệ tử vong nói chung so với nhóm đối chứng (khoảng tin cậy 95% từ 10% đến 32%) [3].
Nghiên cứu cũng ghi nhận hiệu quả giảm tử vong trên những nhóm trẻ có bệnh nền suy giảm miễn dịch. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược năm 2005 tại Bệnh viện Mulago ở Kampala, Uganda theo dõi 181 trẻ nhiễm HIV trong thời gian trung vị 17,8 tháng [4]. Nhóm trẻ nhận 60 mg retinol tương đương mỗi 3 tháng ghi nhận tỷ lệ tử vong là 20,6%, thấp hơn mức 32,9% của nhóm đối chứng giả dược, tương ứng nguy cơ tương đối 0,54 (khoảng tin cậy 95% từ 0,30 đến 0,98) [4]. Trẻ dùng vitamin A cũng giảm tỷ lệ mắc ho kéo dài (tỷ số chênh 0,47; khoảng tin cậy 95% từ 0,23 đến 0,96) và rút ngắn thời gian chảy dịch tai [4].
Hiệu quả không đồng đều trên mọi loại bệnh
Dù vitamin A thể hiện vai trò rõ rệt trong giảm tử vong do tiêu chảy cấp tính, dưỡng chất này không phải là lá chắn bảo vệ vạn năng trước mọi bệnh lý truyền nhiễm [1]. Các dữ liệu y khoa nhấn mạnh không thể dùng vitamin A thay thế cho các biện pháp điều trị chuyên biệt.
Thử nghiệm ngẫu nhiên, đối chứng giả dược tại miền bắc Ghana theo dõi 21.906 trẻ trong nghiên cứu tử vong suốt 2 năm và 1.455 trẻ trong nghiên cứu bệnh tật suốt 1 năm đã đánh giá tác động đối với bệnh sốt rét [5]. Kết quả ghi nhận việc bổ sung vitamin A không làm thay đổi tỷ lệ tử vong do sốt rét (tỷ số tỷ lệ 1,03; khoảng tin cậy 95% từ 0,74 đến 1,43) cũng như tỷ lệ sốt do người nhà báo cáo [5]. Mật độ ký sinh trùng trong máu và tỷ lệ mắc bệnh sốt rét giữa hai nhóm không khác biệt [5].
Tại Ấn Độ, bài tổng quan năm 2002 xem xét 11 thử nghiệm ngẫu nhiên đủ điều kiện cho thấy bằng chứng lợi ích không đồng nhất [6]. Trong số 4 thử nghiệm về tỷ lệ tử vong, chỉ có 1 nghiên cứu báo cáo mức giảm tử vong 54% [6]. Trong 8 nghiên cứu về tỷ lệ bệnh tật, chỉ có 3 nghiên cứu ghi nhận một số lợi ích [6]. Nghiên cứu tại đây chưa tìm thấy bằng chứng chắc chắn để ủng hộ hoặc phản đối việc bổ sung vitamin A diện rộng cho toàn bộ trẻ em Ấn Độ [6].
Giới hạn theo độ tuổi: Lưu ý ở trẻ sơ sinh
Nhiều bậc phụ huynh lầm tưởng có thể bổ sung vitamin A liều cao ở bất kỳ độ tuổi nào để giúp trẻ tăng đề kháng sớm. Tuy nhiên, bằng chứng lâm sàng không ủng hộ việc dùng liều cao ngay trong giai đoạn sơ sinh.
Một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược công bố năm 2016 trên 31.999 trẻ sơ sinh tại Tanzania (dự án Neovita) đã kiểm chứng việc cho trẻ uống một liều 50.000 IU vitamin A trong vòng 3 ngày đầu sau sinh [7]. Kết quả theo dõi đến 6 tháng tuổi không tìm thấy bằng chứng về việc giảm tỷ lệ tử vong ở nhóm dùng vitamin A so với nhóm giả dược [7].
Phác đồ bổ sung chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới chỉ tập trung vào nhóm trẻ từ 6 đến 59 tháng tuổi tại các khu vực cộng đồng có nguy cơ thiếu hụt vi chất [6, 7, 8]. Việc tự ý áp dụng liều cao ngoài chỉ dẫn độ tuổi không đem lại lợi ích phòng ngừa tử vong mà còn làm gia tăng áp lực chuyển hóa lên cơ quan nội tạng của trẻ nhỏ.
Rủi ro khi bổ sung quá liều và hiểu lầm thường gặp
Một hiểu lầm rất phổ biến là dùng liều càng cao hoặc uống càng nhiều lần thì con sẽ càng khỏe mạnh và ít ốm vặt hơn. Nghiên cứu khoa học đã chứng minh quan niệm này hoàn toàn sai lầm.
Phân tích gộp năm 2017 xác nhận hiệu quả giảm tỷ lệ tử vong của vitamin A không tăng lên khi tăng tần suất uống (mỗi liều/năm: tỷ số nguy cơ 1,02; p = 0,22), không tăng theo tổng liều tích lũy (mỗi 200.000 IU: tỷ số nguy cơ 1,02; p = 0,31) và cũng không thay đổi theo độ dài thời gian can thiệp (tỷ số nguy cơ 1,06; p = 0,14) [3]. Lợi ích bảo vệ đạt tối ưu khi dùng đúng liều chuẩn, việc tăng liều không đem lại giá trị cộng dồn [3].
Hơn nữa, trong thử nghiệm tại Ghana trên 1.455 trẻ em, việc dùng vitamin A không làm giảm tỷ lệ hiện mắc của bệnh tiêu chảy hoặc nhiễm trùng hô hấp cấp tính so với nhóm dùng giả dược [1]. Vitamin A chủ yếu giúp ngăn các đợt tiêu chảy chuyển biến thành tử vong chứ không ngăn chặn hoàn toàn việc trẻ bị nhiễm bệnh [1].
Uống quá liều vitamin A có thể dẫn đến tình trạng ngộ độc cấp tính hoặc mạn tính. Dấu hiệu quá liều thường gặp ở trẻ nhỏ bao gồm nôn mửa liên tục, bỏ bú, ngủ gà, chán ăn hoặc dấu hiệu tăng áp lực nội sọ thoáng qua dẫn đến căng phồng thóp ở trẻ còn thóp. Nếu cha mẹ vừa cho con uống tại trạm y tế vừa tự mua thêm dầu gan cá liều cao về cho uống tại nhà, nguy cơ tích lũy độc chất ở gan sẽ tăng cao.
Những ai cần thận trọng khi bổ sung?
Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi tuyệt đối không tự ý bổ sung vitamin A liều cao nếu không có chỉ định trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa [6, 7]. Nguồn vitamin A an toàn nhất cho lứa tuổi này là từ sữa mẹ.
Trẻ đang mắc các bệnh lý suy giảm chức năng gan, thận cần được bác sĩ đánh giá cẩn thận trước khi dùng các chế phẩm bổ sung vi chất dạng liều tích lũy. Gan là nơi lưu trữ chính của vitamin A, do đó bất kỳ tổn thương nhu mô gan nào cũng làm suy giảm khả năng dung nạp liều lớn.
Trẻ đang sử dụng các chế phẩm vitamin tổng hợp hoặc thuốc bổ chứa vitamin A hằng ngày cần tạm ngưng các sản phẩm này khi tham gia chiến dịch uống vitamin A liều cao tại địa phương. Sự cộng dồn từ nhiều nguồn bổ sung cùng lúc là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới hiện tượng ngộ độc.
Gia đình có trẻ nhỏ mắc bệnh mạn tính, trẻ suy dinh dưỡng nặng hoặc có tiền sử dị ứng cần tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sĩ điều trị để nhận được hướng dẫn về liều dùng và thời điểm dùng thích hợp nhất.
Áp dụng thực tế và chế độ dinh dưỡng an toàn
Đối với trẻ trong độ tuổi từ 6 đến 59 tháng, phụ huynh nên cho con tham gia uống vitamin A định kỳ theo các chiến dịch y tế quốc gia tại trạm y tế địa phương. Liều dùng được thiết kế chuẩn theo độ tuổi: 100.000 IU cho trẻ từ 6 đến 11 tháng tuổi và 200.000 IU cho trẻ từ 12 đến 59 tháng tuổi, dùng định kỳ mỗi 4 đến 6 tháng một lần [1].
Trong đời sống hằng ngày, biện pháp an toàn và bền vững nhất để ngăn ngừa thiếu hụt vi chất là duy trì chế độ ăn uống đa dạng. Bổ sung các thực phẩm giàu tiền chất vitamin A (beta-carotene) như cà rốt, bí đỏ, khoai lang, đu đủ chín, xoài chín và các loại rau có màu xanh sẫm. Beta-carotene từ thực vật chỉ chuyển đổi thành vitamin A khi cơ thể có nhu cầu, do đó không gây ra nguy cơ ngộ độc tích lũy.
Do vitamin A và tiền chất vitamin A tan trong chất béo, khẩu phần ăn của trẻ cần được cung cấp một lượng dầu mỡ vừa đủ để cơ thể hấp thu tối đa dưỡng chất từ thức ăn. Khi trẻ ốm sốt hoặc tiêu chảy, cần bổ sung đủ nước và dung dịch oresol, duy trì chế độ ăn lỏng dễ tiêu và đưa trẻ đến cơ sở y tế khi xuất hiện dấu hiệu chuyển nặng.
Bổ sung vitamin A liều cao là can thiệp y tế cộng đồng hiệu quả giúp giảm nguy cơ tử vong do nhiễm trùng tiêu hóa ở trẻ nhỏ [5, 8]. Dù vậy, phụ huynh không nên lạm dụng hoặc tự ý tăng liều để tránh nguy cơ ngộ độc. Kết hợp uống liều định kỳ theo trạm y tế và duy trì bữa ăn đa dạng là giải pháp tốt nhất cho sự phát triển của trẻ.









