Cơn sốt tìm kiếm dược liệu trị bệnh gan
Nhiều người Việt có thói quen hễ nghe nhắc tới bệnh gan là tìm mua các loại lá nam sắc uống. Trong số các thảo dược truyền miệng, cây xạ đen (tên khoa học Celastrus hindsii) thường được đồn thổi như phương thuốc có thể đảo ngược xơ gan hay tiêu diệt virus viêm gan B.
Thực tế y học hiện nay cho thấy những lời đồn thổi trên hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học. Các nghiên cứu về xạ đen mới dừng lại ở việc phân lập hoạt chất và thử nghiệm khả năng chống oxy hóa trong phòng thí nghiệm. Chưa có bằng chứng lâm sàng nào xác nhận cây xạ đen trị khỏi xơ gan hoặc viêm gan virus trên người.
Xạ đen là loài thực vật thuộc họ Dây gối (Celastraceae), phân bố ở nhiều quốc gia như Lào, Thái Lan, miền Nam Trung Quốc, Nam Mỹ và mọc tự nhiên tại các vùng rừng núi Việt Nam như Hòa Bình, Hà Nam, Quảng Ninh, Ninh Bình [1], [2]. Từ xa xưa trong dân gian, cây được dùng theo kinh nghiệm truyền miệng để chữa viêm, loét, mụn nhọt hoặc hỗ trợ khối u [1], [2].
Thực hư khả năng chữa xơ gan và viêm gan B
Nhiều người lầm tưởng uống nước xạ đen đậm đặc thay nước lọc hàng ngày sẽ làm sạch virus viêm gan B và làm mềm các mô xơ gan. Đây là quan niệm sai lầm nghiêm trọng khiến không ít người bệnh bỏ lỡ giai đoạn điều trị y khoa tiêu chuẩn.
Xơ gan là hậu quả của quá trình tổn thương tế bào gan mạn tính kéo dài, hình thành dải xơ không thể tự hồi phục chỉ nhờ các loại nước sắc thảo dược thông thường. Viêm gan B do virus HBV gây ra, đòi hỏi thuốc kháng virus đặc hiệu để ức chế sao chép nhân bản và ngăn chặn biến chứng, điều mà thảo dược thô chưa từng được chứng minh làm được trên cơ thể người.
Việc dân gian dùng xạ đen trị bệnh gan bắt nguồn từ kinh nghiệm lịch sử lâu đời chứ cơ chế trị liệu chưa từng được kiểm chứng y học đầy đủ [1]. Các dữ liệu sinh học hiện nay chỉ cho thấy xạ đen chứa nhiều chất có tiềm năng dọn gốc tự do, hạn chế stress oxy hóa. Dọn gốc tự do trong mô hình thí nghiệm khác hoàn toàn với tác dụng tiêu diệt virus hay đảo ngược cấu trúc xơ hóa phức tạp trong gan người.
Các hoạt chất chống oxy hóa được tìm thấy trong xạ đen
Các nhà khoa học đã tiến hành nhiều công trình phân tích thành phần hóa học của cây xạ đen để giải mã các hoạt tính sinh học của loài cây này. Lá xạ đen chứa nhiều nhóm hợp chất quý như phenolic, flavonoid, terpenoid, alkaloid và axit rosmarinic [1].
Năm 2006, nghiên cứu phân lập từ dịch chiết methanol 50% của lá xạ đen khô đã thu được 8 hợp chất phenolic bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo [3]. Trong đó bao gồm rutin, kaempferol 3-rutinoside, axit rosmarinic, axit lithospermic, axit lithospermic B cùng ba oligomer mới của axit rosmarinic (gồm 1 dimer và 2 trimer) [3]. Axit rosmarinic và axit lithospermic B là hai thành phần chủ yếu trong dịch chiết này [3].
Năm 2019, nghiên cứu phân đoạn dịch chiết ethyl acetate từ lá xạ đen bằng sắc ký cột phát hiện hệ dung môi 50-70% methanol trong chloroform cho hàm lượng tổng phenolic, flavonoid và hoạt tính chống oxy hóa cao nhất [2]. Phân tích nhận diện 15 hợp chất chính thuộc các nhóm axit béo, amide, flavonoid, sterol, terpene và phenol [2]. Trong đó alpha-amyrin, beta-amyrin, hydrazine carboxamide, axit hexadecanoic, fucosterol, (3beta)-D:C-friedours-7-en-3-ol, rutin và 2-hydroxy-1-ethyl ester chiếm tỷ lệ vượt trội, các chất khác dưới 5% [2].
Đến năm 2021, một nghiên cứu khác đã phân lập thành công 12,05 g hỗn hợp alpha-amyrin và beta-amyrin từ xạ đen (đạt tỷ lệ 10,75 g/kg trọng lượng khô) bằng sắc ký cột [1]. Hai hoạt chất này được xác nhận cấu trúc qua phân tích GC-MS, ESI-MS và NMR, khẳng định xạ đen là nguồn cung cấp dồi dào triterpenoid tự nhiên [1].
Bằng chứng khoa học trong ống nghiệm nói gì?
Khả năng bảo vệ tế bào sinh học của xạ đen được chứng minh chủ yếu qua các thử nghiệm dọn gốc tự do và chống peroxy hóa lipid trong ống nghiệm. Khi tế bào tiếp xúc các gốc tự do, màng lipid bị phá hủy sinh ra tổn thương tế bào; các chất chống oxy hóa trong thảo mộc giúp trung hòa các phân tử độc hại này.
Thử nghiệm năm 2006 ghi nhận các hợp chất phenolic từ xạ đen thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh mẽ trước sự tự oxy hóa methyl linoleate và ức chế quá trình peroxy hóa phosphatidylcholine đậu nành do gốc tự do khởi phát trong liposome [3]. Hiệu quả chống oxy hóa trong liposome có mối tương quan thuận với số lượng nhóm phenolic hydroxyl trong từng phân tử [3].
Nghiên cứu năm 2020 tối ưu hóa chiết xuất flavonoid từ lá xạ đen bằng sóng siêu âm ở công suất 130 W, nhiệt độ 40 độ C, thời gian 29 phút và nồng độ cồn 65% đã thu được hàm lượng flavonoid tối đa 23,6 mg QE/g [4]. Dịch chiết giàu flavonoid này thể hiện khả năng dọn gốc tự do DPPH với IC50 là 164,85 microg/mL và ABTS với IC50 là 89,05 microg/mL [4]. Dịch chiết này cũng ức chế 3 dòng tế bào ung thư MCF7, A549 và HeLa với giá trị IC50 lần lượt là 88,1 microg/mL, 120,4 microg/mL và 118,4 microg/mL, đồng thời không gây độc tính trên dòng tế bào thận bình thường HK2 [4].
Hỗn hợp alpha-amyrin và beta-amyrin phân lập năm 2021 cũng cho thấy hoạt tính chống oxy hóa qua thử nghiệm DPPH và ABTS với IC50 lần lượt là 125,55 microg/mL và 155,28 microg/mL [1]. Đáng chú ý, hỗn hợp này còn ức chế enzyme xanthine oxidase liên quan đến bệnh gút với IC50 là 258,22 microg/mL và ức chế enzyme tyrosinase liên quan đến chứng tăng sắc tố da với IC50 là 178,85 microg/mL [1].
Khoảng cách từ ống nghiệm đến gan người
Tất cả các kết quả khả quan trên của xạ đen đều là nghiên cứu in vitro (trong ống nghiệm) hoặc mô hình hóa học phân lập [1], [2], [3], [4]. Trong phòng thí nghiệm, tế bào hoặc gốc tự do được tiếp xúc trực tiếp với hoạt chất tinh khiết ở nồng độ xác định.
Khi con người uống nước sắc xạ đen thô, các hoạt chất phải trải qua chuyển hóa phức tạp tại đường tiêu hóa, chịu sự phân hủy của dịch dạ dày, men ruột và chuyển hóa bước đầu tại gan. Nồng độ hoạt chất thực tế hấp thu vào tuần hoàn máu và đến được mô gan thường rất thấp so với nồng độ dùng trong đĩa nuôi cấy nhân tạo.
Do đó, hoạt tính dọn gốc tự do trong đĩa thí nghiệm không đồng nghĩa với việc uống nước lá xạ đen sẽ phục hồi nhu mô gan hay tiêu diệt được tác nhân gây bệnh mạn tính. Khoa học hiện chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào trên bệnh nhân viêm gan B hay xơ gan để khẳng định hiệu quả điều trị của loài cây này.
Những ai cần thận trọng khi sử dụng?
Người mắc bệnh gan mạn tính, xơ gan mất bù hoặc suy giảm chức năng gan thận nặng không nên tự ý dùng các loại nước sắc thảo mộc thô liều cao kéo dài. Gan bị bệnh vốn đã suy giảm năng lực lọc thải màng lọc sinh học; việc dung nạp thêm hỗn hợp thảo dược không rõ độ tinh khiết có thể làm tăng gánh nặng chuyển hóa.
Phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ cần hết sức thận trọng vì chưa có dữ liệu lâm sàng về tính an toàn trên các nhóm đối tượng này. Những người đang điều trị các bệnh mạn tính bằng thuốc tây cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng thảo dược để phòng ngừa tương tác chuyển hóa thuốc tại gan.
Ngoài ra, nguồn dược liệu trôi nổi trên thị trường tiềm ẩn nguy cơ nấm mốc, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật hoặc bị trộn lẫn các loài cây dại khác. Độc tố từ tạp chất bên ngoài có thể gây viêm gan nhiễm độc cấp tính, đẩy người bệnh vào tình trạng nguy kịch nhanh chóng hơn.
Cách dùng hợp lý và lưu ý an toàn
Nếu muốn sử dụng xạ đen như một thức uống thảo mộc thông thường, người dân chỉ nên dùng với lượng vừa phải, không nấu quá đặc và không uống thay thế hoàn toàn nguồn nước lọc hàng ngày. Không nên tự ý kết hợp nhiều vị thuốc nam lạ khi chưa có chỉ định của chuyên gia y học cổ truyền.
Điều quan trọng nhất là bệnh nhân có bệnh lý về gan tuyệt đối không được tự ý bỏ thuốc kháng virus hay thuốc điều trị xơ gan do bác sĩ chuyên khoa kê đơn để chuyển sang dùng xạ đen. Việc trì hoãn điều trị y khoa chuẩn mực có thể khiến bệnh gan tiến triển âm thầm sang giai đoạn xơ gan mất bù hoặc ung thư gan.
Xạ đen thực chất là nguồn thảo dược tự nhiên chứa nhiều chất chống oxy hóa tiềm năng trong các thử nghiệm cơ bản tại phòng thí nghiệm. Việc nhìn nhận đúng giá trị hỗ trợ, tránh thần thánh hóa thành thần dược trị xơ gan hay viêm gan B là cách bảo vệ lá gan khoa học và an toàn nhất.







