Câu hỏi quen thuộc trong bữa ăn hàng ngày
Trong các lời khuyên về dinh dưỡng phòng bệnh, việc bổ sung rau xanh và chất xơ luôn được nhắc đến đầu tiên. Nhiều người tin rằng chỉ cần chăm ăn rau là có thể loại bỏ hoàn toàn nỗi lo ung thư đường tiêu hóa. Tuy nhiên, liệu mối liên hệ này có thực sự mạnh mẽ như những lời truyền miệng?
Thực tế, các bằng chứng khoa học cho thấy mối liên hệ bảo vệ là có thật, nhưng ở mức độ vừa phải và có điều kiện [1]. Báo cáo năm 2017 của Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới (WCRF) xếp bằng chứng về việc tiêu thụ thực phẩm chứa chất xơ hoặc ngũ cốc nguyên hạt giúp giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng ở mức "có khả năng cao" (probable) [1]. Chất xơ mang lại lợi ích rõ rệt, nhưng không phải là "tấm lá chắn" tuyệt đối nếu bỏ qua các yếu tố lối sống khác.
Cơ chế bảo vệ biểu mô ruột diễn ra như thế nào?
Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều giả thuyết hợp lý để giải thích tác động tích cực của chất xơ đối với đường tiêu hóa [1]. Điểm cốt lõi nằm ở quá trình vận chuyển chất thải và hoạt động chuyển hóa của hệ vi sinh đường ruột [1].
Đầu tiên, chất xơ giúp làm tăng khối lượng phân và rút ngắn thời gian vận chuyển chất cặn bã trong lòng ruột [1]. Khi thời gian lưu chuyển giảm đi, biểu mô niêm mạc đại trực tràng sẽ ít tiếp xúc hơn với các hợp chất gây ung thư tồn đọng trong chất thải [1].
Thứ hai, chế độ ăn giàu chất xơ hỗ trợ làm giảm quá trình tạo thành các axit mật thứ cấp – vốn là những chất có khả năng thúc đẩy viêm và tổn thương tế bào [1]. Quan trọng hơn, quá trình lên men chất xơ bởi hệ vi sinh vật đường ruột sẽ tạo ra các axit béo chuỗi ngắn (short chain fatty-acids) [1]. Các axit béo này đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng và bảo vệ lớp tế bào biểu mô lót mặt trong ruột kết [1].
Bằng chứng dịch tễ học: Các con số nói lên điều gì?
Mối liên hệ giữa việc tiêu thụ chất xơ ở người trưởng thành và nguy cơ ung thư đại trực tràng đã được xem xét kỹ lưỡng qua nhiều phân tích gộp quy mô lớn [1].
Một phân tích tổng hợp từ 25 nghiên cứu tiến cứu cho thấy cứ mỗi 10g chất xơ ăn vào tăng thêm mỗi ngày, nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng giảm tương ứng 10% [1]. Kết quả này được củng cố bởi một phân tích gộp khác bao gồm cả các nghiên cứu bệnh - chứng và nghiên cứu đoàn hệ [1].
Năm 2018, một nghiên cứu tổng quan dạng umbrella review đã rà soát các phân tích gộp trên cơ sở dữ liệu PubMed từ ngày 1/1/1980 đến ngày 30/6/2017 [2]. Khi tổng hợp 19 phân tích gộp so sánh nhóm tiêu thụ chất xơ cao nhất với thấp nhất, các tác giả ghi nhận nguy cơ tương đối (RR) của ung thư đại trực tràng giảm có ý nghĩa thống kê, dao động từ 0,52 đến 0,88 [2]. Tổng quan kết luận người tiêu thụ lượng chất xơ cao nhất có thể hưởng lợi ích giảm tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng [2].
Tại Trung Quốc, một phân tích gộp năm 2003 từ 14 nghiên cứu bệnh - chứng (thực hiện trong 13 năm với 5.034 ca bệnh và 5.205 ca đối chứng) đã xem xét các yếu tố nguy cơ [3]. Kết quả từ mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên cho thấy vận động thể lực thích hợp và chất xơ trong khẩu phần là các yếu tố bảo vệ với tỷ số chênh gộp (OR) dưới 0,8 [3]. Ngược lại, các tình trạng phân nhầy máu, tiêu chảy mạn tính và bệnh đa polyp đường ruột có mối liên quan rất cao với ung thư đại trực tràng (tất cả OR gộp đều trên 4) [3].
Nghiên cứu Đoàn hệ Đa dân tộc (Multiethnic Cohort Study) theo dõi 187.674 người tham gia trong thời gian trung bình 16 năm, ghi nhận 4.692 ca mắc [4]. Trong mô hình hiệu chỉnh đa biến, chất xơ liên quan nghịch với nguy cơ ung thư ở cả hai giới [4]. So sánh nhóm ăn cao nhất với thấp nhất, tỷ số nguy cơ (HR) ở nam giới là 0,73 (KTC 95%: 0,61-0,89) và ở nữ giới là 0,76 (KTC 95%: 0,62-0,91) [4]. Nghiên cứu cũng chỉ ra phụ nữ sau mãn kinh từng dùng liệu pháp hormone mãn kinh (MHT) có nguy cơ thấp hơn 19% [4]. Ở những phụ nữ chưa từng dùng MHT, chất xơ giúp giảm nguy cơ (HR: 0,75; KTC 95%: 0,59-0,95), nhưng không làm giảm thêm nguy cơ ở nhóm đã từng dùng MHT [4].
Tác động đối với u tuyến tiền ung thư và tỷ lệ sống sót
Không chỉ dừng lại ở ung thư đại trực tràng giai đoạn muộn, chất xơ còn thể hiện vai trò ở giai đoạn sớm, cụ thể là u tuyến đại trực tràng (CRA) - tổn thương tiền thân của ung thư [5].
Một phân tích gộp năm 2014 thu thập dữ liệu từ các nghiên cứu bệnh - chứng và đoàn hệ đến tháng 7/2013, bao gồm 20 nghiên cứu với 10.948 đối tượng có u tuyến [5]. Kết quả cho thấy nguy cơ tương đối gộp (SRR) của u tuyến đối với tổng lượng chất xơ ở nhóm ăn cao so với nhóm ăn thấp là 0,72 (KTC 95%: 0,63-0,83) [5]. Trong mô hình đáp ứng liều, cứ tăng mỗi 10g chất xơ mỗi ngày thì nguy cơ giảm 9% (SRR: 0,91; KTC 95%: 0,87-0,95) [5]. Khi phân tích theo nguồn thực phẩm ở mức ăn cao so với thấp, SRR lần lượt là 0,84 cho chất xơ từ trái cây; 0,93 cho rau củ và 0,76 cho chất xơ từ ngũ cốc [5].
Đối với những người đã được chẩn đoán mắc bệnh, chất xơ cũng cho thấy mối liên hệ tích cực [6]. Nghiên cứu đoàn hệ Newfoundland Familial Colorectal Cancer Study (NFCCS) theo dõi 504 bệnh nhân ung thư đại trực tràng từ lúc chẩn đoán (1999-2003) đến tháng 4/2010 [6]. Bệnh nhân được đánh giá khẩu phần 1 năm trước khi chẩn đoán bằng bảng hỏi tần suất thực phẩm [6]. Kết quả cho thấy nhóm có lượng chất xơ ở mức tứ phân vị thứ hai có nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân thấp hơn 42% (HR: 0,58) và nguy cơ tử vong đặc hiệu do ung thư đại trực tràng thấp hơn 58% (HR: 0,42) so với nhóm tiêu thụ thấp nhất [6]. Phân tích gộp kết hợp NFCCS và 3 đoàn hệ tiến cứu khác cũng xác nhận chất xơ cao tương quan nghịch với tử vong chung và tử vong do ung thư [6].
Giới hạn của bằng chứng và các yếu tố gây nhiễu
Mặc dù nhiều nghiên cứu chỉ ra tác động bảo vệ, bức tranh khoa học vẫn ghi nhận những điểm chưa hoàn toàn đồng nhất khi xem xét kỹ các yếu tố gây nhiễu [3, 7].
Điển hình là phân tích gộp năm 2005 từ 13 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu thuộc Dự án Gộp các Nghiên cứu Tiến cứu về Chế độ ăn và Ung thư, theo dõi 725.628 đối tượng trong 6 đến 20 năm và ghi nhận 8.081 ca mắc [7]. Ở mô hình hiệu chỉnh theo tuổi, so sánh nhóm ăn cao nhất và thấp nhất cho thấy mối liên quan nghịch có ý nghĩa (RR gộp = 0,84) [7]. Thế nhưng, sau khi hiệu chỉnh thêm các yếu tố nguy cơ ăn uống khác, mối liên quan này bị suy giảm và không còn ý nghĩa thống kê (RR đa biến gộp = 0,94; KTC 95%: 0,86-1,03) [7].
Cũng trong phân tích này, khi so với mức ăn 10 đến dưới 15g chất xơ/ngày, người ăn dưới 10g/ngày có nguy cơ cao hơn (RR đa biến = 1,18), nhưng mức ăn từ 30g/ngày trở lên lại không cho thấy sự khác biệt (RR = 1,00) [7]. Ngoài ra, RR đa biến gộp theo vị trí là 1,00 cho ung thư kết tràng và 0,85 cho ung thư trực tràng [7].
Sự khác biệt theo vị trí khối u cũng được đào sâu trong một phân tích gộp năm 2018 [8]. Nghiên cứu này ghi nhận chất xơ tương quan nghịch với ung thư đại tràng đoạn xa (DCC) sau khi hiệu chỉnh tiền sử hút thuốc, BMI và tuổi [8]. Giá trị RR gộp tương ứng là 0,79 cho ung thư đại tràng đoạn gần (PCC) và 0,86 cho ung thư đại tràng đoạn xa (DCC), trong khi một phân tích gộp 6 nghiên cứu trước đó đưa ra ước tính nguy cơ chung là 0,88 cho ung thư đại trực tràng [8].
Các nghiên cứu dịch tễ cũng có những hạn chế nhất định. Hầu hết nghiên cứu phụ thuộc vào bảng hỏi tần suất thực phẩm (FFQ), vốn dễ gặp sai số đo lường [8]. Sự khác nhau về khoảng phân chia hàm lượng chất xơ giữa các nghiên cứu tạo ra tính không đồng nhất [8].
Về thời điểm tiếp xúc, một nghiên cứu chỉ ra rằng lượng chất xơ hồi cứu trong thời kỳ thanh thiếu niên từ nghiên cứu NIH-AARP lại liên quan đến nguy cơ ung thư trực tràng cao hơn và ung thư kết tràng cao hơn ở phụ nữ [1]. Tuy nhiên, các tác giả giải thích điều này có thể do thiếu dữ liệu thành phần thực phẩm của thời kỳ đó dẫn đến sai số khi gán ghép dữ liệu, hoặc do mức tiêu thụ chất xơ lúc trẻ quá thấp chưa đạt ngưỡng bảo vệ [1]. Ngược lại, nghiên cứu NHS II ghi nhận khẩu phần lành mạnh giàu rau củ quả và ngũ cốc chất lượng cao ở thanh thiếu niên liên quan đến giảm nguy cơ ung thư trực tràng [1].
Hiểu lầm thường gặp: Cứ ăn nhiều chất xơ là ngừa được ung thư?
Một sai lầm phổ biến là cho rằng chỉ cần bổ sung chất xơ thật nhiều thì có thể thoải mái duy trì các thói quen xấu khác. Các dữ liệu khoa học cho thấy hiệu quả của chất xơ thường bị suy giảm hoặc lu mờ nếu không kiểm soát các yếu tố nguy cơ then chốt như hút thuốc lá, béo phì (BMI cao) và chế độ ăn nhiều thịt đỏ, thịt chế biến sẵn [3, 7].
Thêm vào đó, việc phân tích u tuyến đại trực tràng cho thấy kết quả giảm nguy cơ có ý nghĩa rõ rệt trong các nghiên cứu bệnh - chứng (SRR: 0,66), nhưng trong các nghiên cứu đoàn hệ thì lại không đạt ý nghĩa thống kê (SRR: 0,92; KTC 95%: 0,76-1,10) [5]. Điều này nhắc nhở rằng bằng chứng quan sát vẫn chịu ảnh hưởng bởi thiết kế nghiên cứu và cách thu thập dữ liệu. Do đó, chất xơ là một phần của lối sống phòng ngừa, không phải phương thuốc chữa bệnh hay biện pháp bảo vệ đơn lẻ.
Ai nên thận trọng khi tăng lượng chất xơ?
Dù chất xơ nhìn chung rất an toàn cho cộng đồng, việc thay đổi chế độ ăn đột ngột không phù hợp cho tất cả mọi người. Những người có tiền sử bệnh lý đường ruột như viêm ruột mạn tính, hẹp lòng ruột, phân nhầy máu hoặc thường xuyên tiêu chảy mạn tính cần được bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa theo dõi chặt chẽ [3].
Những người đang gặp các triệu chứng tiêu hóa bất thường, polyp đường ruột hoặc có tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng cần thực hiện tầm soát định kỳ thay vì chỉ dựa vào dinh dưỡng [3]. Khi đang dùng thuốc điều trị hoặc có bệnh nền, bệnh nhân nên trao đổi với chuyên gia y tế trước khi thay đổi mạnh lượng chất xơ tiêu thụ mỗi ngày.
Áp dụng thực tế vào chế độ ăn hàng ngày
Để đạt được các lợi ích đã được ghi nhận qua nghiên cứu, người tiêu dùng có thể tham khảo một số giải pháp cân bằng trong sinh hoạt:
- Phân bổ đều các nguồn chất xơ: Dữ liệu cho thấy chất xơ từ ngũ cốc nguyên hạt, trái cây và rau củ đều có mối liên quan tích cực ở các mức độ khác nhau đến việc giảm u tuyến và ung thư [1, 4]. Hãy đa dạng hóa bữa ăn bằng cách kết hợp gạo lứt, yến mạch, các loại đậu cùng rau tươi.
- Tăng lượng từ từ: Dữ liệu ghi nhận cứ mỗi 10g chất xơ tăng thêm giúp cải thiện các chỉ số nguy cơ [1, 4]. Nên tăng lượng xơ từng bước trong vài tuần kết hợp uống đủ nước để hệ vi sinh đường ruột và nhu động tiêu hóa kịp thích nghi.
- Kết hợp vận động thể chất: Phân tích cho thấy bên cạnh chất xơ, việc duy trì các hoạt động thể lực thích hợp là yếu tố bảo vệ đồng hành rất quan trọng giúp cải thiện sức khỏe đại trực tràng [3].
- Kiểm soát các yếu tố bất lợi: Giảm bớt lượng thịt đỏ, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn, duy trì chỉ số khối cơ thể (BMI) hợp lý và không hút thuốc lá để tối ưu hóa tác dụng bảo vệ của chế độ ăn [3, 7].
Nhìn chung, các bằng chứng khoa học cho thấy chất xơ đóng vai trò hỗ trợ đáng kể trong việc giảm nguy cơ tổn thương và ung thư đại trực tràng qua cơ chế sinh học hợp lý [1]. Dù vậy, chất xơ phát huy giá trị tốt nhất khi được đặt trong một tổng thể lối sống cân bằng, dinh dưỡng đa dạng kết hợp kiểm tra sức khỏe và tầm soát định kỳ theo hướng dẫn y tế.






