Té ngã và gãy xương là nỗi lo thường trực của người cao tuổi, gây suy giảm khả năng vận động và làm giảm chất lượng sống nghiêm trọng. Nhiều người thắc mắc liệu việc thay đổi thực đơn hàng ngày, đặc biệt là áp dụng chế độ ăn Địa Trung Hải, có giúp bảo vệ hệ xương khớp vững chắc hơn hay không.
Các bằng chứng khoa học cho thấy chế độ ăn Địa Trung Hải có liên quan đến việc giảm nguy cơ gãy xương hông ở người lớn tuổi, tuy nhiên mức độ bảo vệ còn khiêm tốn và chưa ghi nhận hiệu quả rõ rệt trên nguy cơ gãy xương toàn thân nói chung [1].
Nguy cơ gãy xương và bối cảnh nghiên cứu ở người cao tuổi
Gãy xương ở người lớn tuổi là một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng kể và đang có xu hướng gia tăng theo tốc độ già hóa dân số [2]. Tình trạng này tạo ra gánh nặng tài chính và chăm sóc y tế rất lớn cho xã hội [2]. Việc can thiệp lối sống, đặc biệt là dinh dưỡng, được kỳ vọng sẽ giúp bảo vệ khối cơ và xương trong suốt cuộc đời nhằm hạn chế chấn thương do tuổi tác [2].
Chế độ ăn Địa Trung Hải vốn nổi tiếng với lợi ích bảo vệ trước các bệnh lý tim mạch, ung thư, thoái hóa thần kinh và giảm nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân [1]. Kiểu ăn này tập trung vào các thực phẩm giàu dinh dưỡng như rau củ quả, các loại hạt, đậu, ngũ cốc nguyên hạt, dầu thực vật và cá [3]. Do đó, các nhà khoa học đã nỗ lực phân tích mối liên hệ giữa mô hình ẩm thực này với sức khỏe xương khớp, đặc biệt là nguy cơ gãy xương hông và loãng xương [2, 5].
Chế độ ăn Địa Trung Hải: Lợi ích bảo vệ xương có thực sự rõ ràng?
Nhiều phân tích tổng hợp từ các nghiên cứu đoàn hệ quan sát cho thấy việc tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải có mối liên quan đến việc giảm nguy cơ gãy xương hông [1]. Tuy nhiên, mức giảm rủi ro này được đánh giá là thấp và các kết quả nghiên cứu hiện có vẫn còn nhiều mâu thuẫn [1]. Khi tổng hợp dữ liệu về nguy cơ gãy xương nói chung hoặc gãy xương toàn thân, phân tích không tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê [1].
Một đánh giá hệ thống và bản đồ bằng chứng năm 2017 cũng chỉ ra sự thiếu hụt nghiên cứu về mối liên hệ giữa chế độ ăn Địa Trung Hải và sức khỏe cơ xương khớp ở mọi lứa tuổi [2]. Trong số 1.738 tài liệu tìm kiếm được, không có thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nào đủ điều kiện mà chỉ có 3 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu được phân tích [2]. Trong đó, hai nghiên cứu báo cáo tỷ lệ gãy xương hông cho kết quả trái ngược nhau, còn một nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ giữa chế độ ăn này với tỷ lệ mắc chứng suy giảm khối lượng cơ (sarcopenia) [2].
Các nghiên cứu lớn nói gì về gãy xương hông?
Dự án CHANCES công bố năm 2018 đã tiến hành theo dõi một quần thể đa dạng gồm 140.775 người lớn từ 60 tuổi trở lên (gồm 116.176 phụ nữ và 24.599 nam giới) đến từ 5 đoàn hệ tại châu Âu và Mỹ [4]. Trong tổng thời gian theo dõi 1.896.219 người-năm, nhóm nghiên cứu ghi nhận 5.454 ca gãy xương hông [4]. Mức độ tuân thủ chế độ ăn được đánh giá qua thang điểm 10 điều chỉnh [4]. Kết quả cho thấy khi điểm tuân thủ tăng thêm 2 điểm, nguy cơ gãy xương hông giảm 4% (tỷ số nguy cơ đã hiệu chỉnh HR = 0,96; khoảng tin cậy 95% CI: 0,92-0,99) [4]. Khi phân nhóm, người có mức tuân thủ trung bình giảm nguy cơ gãy xương hông với HR = 0,93 (95% CI: 0,87-0,99) và người có mức tuân thủ cao đạt HR = 0,94 (95% CI: 0,87-1.01) so với nhóm tuân thủ thấp [4].
Tại Thụy Điển, một nghiên cứu đoàn hệ năm 2016 gộp dữ liệu từ 71.333 người (37.903 nam và 33.403 nữ, tuổi trung bình 60) không có tiền sử ung thư hay tim mạch, theo dõi từ năm 1998 đến năm 2012 [3]. Chế độ ăn Địa Trung Hải biến thể (mMED) được tính từ 0 đến 8 điểm [3]. Qua theo dõi, ghi nhận 3.175 ca gãy xương hông ở độ tuổi trung vị là 73,3 tuổi [3]. Cứ mỗi điểm tăng thêm trong thang điểm mMED giúp giảm 6% tỷ lệ gãy xương hông (HR hiệu chỉnh = 0,94; 95% CI: 0,92-0,96) và làm chậm tuổi trung vị bị gãy xương thêm gần 3 tháng (chênh lệch phân vị thứ 50 là 2,8 tháng; 95% CI: 1,4-4,2) [3]. So sánh nhóm tuân thủ cao nhất (6-8 điểm) với nhóm thấp nhất (0-2 điểm), nguy cơ giảm tới 22% (HR = 0,78; 95% CI: 0,69-0,89) và tuổi gãy xương hông trung vị chậm lại 12 tháng (95% CI: 4,2-19,0), kết quả tương đồng ở cả nam và nữ [3].
Phân tích hậu kiểm trên hơn 90.000 người tham gia nghiên cứu quan sát Sáng kiến Sức khỏe Phụ nữ (WHI) cũng cho thấy việc tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải ở mức độ cao hơn giúp giảm nguy cơ gãy xương hông, dù không ghi nhận liên quan tới tổng các loại gãy xương [1].
Những kết quả trái chiều và giới hạn của bằng chứng
Bên cạnh các phát hiện khả quan, một số nghiên cứu lại ghi nhận kết quả không mong muốn. Một nghiên cứu năm 2013 trên 1.482 người từ 67 tuổi trở lên tại Bordeaux (Pháp) thuộc nghiên cứu Three-City theo dõi trong 8 năm chỉ ghi nhận 155 ca gãy xương [5]. Kết quả cho thấy tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải ở mức cao hơn có xu hướng làm tăng nhẹ nguy cơ gãy xương ở mọi vị trí nhưng không có ý nghĩa thống kê (HR tăng mỗi 1 điểm điểm số = 1,10; p = 0,08) [5]. Phân tích từng thành phần cho thấy việc ăn nhiều trái cây (>2 khẩu phần/ngày) làm tăng đáng kể nguy cơ gãy xương hông (HR = 1,95; p = 0,04), trong khi tiêu thụ ít sản phẩm từ sữa làm tăng gấp đôi nguy cơ gãy xương cổ tay (HR = 2,03; p = 0,007) [5]. Ngược lại, lượng tiêu thụ cồn có mối liên hệ hình chữ U ngược với nguy cơ gãy xương toàn thân (HR nhóm cao so với vừa phải = 0,61; p xu hướng = 0,03) [5].
Nghiên cứu công bố năm 2020 trên phụ nữ sau mãn kinh cho thấy xu hướng giảm nguy cơ gãy xương có thể không phụ thuộc vào riêng một thực đơn cụ thể nào, mà do chất lượng tổng thể của chế độ ăn lành mạnh mang lại [6]. Khi phân tích bổ sung có tính đến tiền sử té ngã - vốn là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây gãy xương ở người già - kết quả chính vẫn không thay đổi [6]. Đáng chú ý, nghiên cứu này không phát hiện sự thay đổi có ý nghĩa lâm sàng nào theo thời gian về khối lượng cơ nạc hoặc mức độ suy giảm mật độ khoáng của xương (BMD) [6].
Một tổng quan phạm vi về các chế độ ăn thay thế cho thấy chế độ ăn Địa Trung Hải biến thể (aMED hoặc mMED) có thể giảm nguy cơ gãy xương hông ở người trên 50 hoặc 60 tuổi, nhưng các thang điểm đánh giá giữa các nghiên cứu đoàn hệ còn thiếu sự đồng nhất [7]. Ngoài ra, chế độ DASH giúp giảm nguy cơ loãng xương cột sống thắt lưng ở nữ giới trong một nghiên cứu, nhưng không liên quan tới gãy xương hông ở nghiên cứu khác, trong khi chế độ Baltic Sea Diet không cho thấy liên quan tới mật độ khoáng của xương [7]. Giới hạn phổ biến ở nhiều nghiên cứu là việc ghi nhận biến cố gãy xương (ngoài xương hông) dựa trên tự báo cáo qua phỏng vấn hoặc bảng câu hỏi, dễ dẫn tới sai lệch phân loại [1, 7].
Vai trò nổi bật của dầu ô liu nguyên chất
Trong số các thành phần của chế độ ăn Địa Trung Hải, dầu ô liu nguyên chất (extra virgin olive oil - EVOO) nhận được sự chú ý đặc biệt. Một nghiên cứu năm 2018 lồng ghép trong thử nghiệm PREDIMED tại Tây Ban Nha đã theo dõi 870 người từ 55 đến 80 tuổi có nguy cơ tim mạch cao trong thời gian trung vị 8,9 năm [8]. Các đối tượng tham gia được phân ngẫu nhiên vào các chế độ ăn bổ sung dầu ô liu nguyên chất, bổ sung hạt, hoặc ăn ít chất béo [8].
Trong suốt quá trình theo dõi, các bác sĩ ghi nhận 114 ca gãy xương liên quan đến loãng xương qua hồ sơ bệnh án [8]. Kết quả cho thấy nhóm người tiêu thụ lượng dầu ô liu nguyên chất cao nhất (nhóm 1/3 trên cùng) có nguy cơ gãy xương do loãng xương thấp hơn 51% (HR = 0,49; 95% CI: 0,29-0,81; p xu hướng = 0,004) so với nhóm tiêu thụ thấp nhất [8]. Ngược lại, việc tiêu thụ tổng lượng dầu ô liu nói chung hoặc dầu ô liu thông thường không cho thấy mối liên quan với nguy cơ gãy xương [8].
Hiểu lầm thường gặp về chế độ ăn Địa Trung Hải và xương khớp
Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần áp dụng chế độ ăn Địa Trung Hải là có thể ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ loãng xương và té ngã. Thực tế, dữ liệu khoa học chưa chứng minh được chế độ ăn này giúp cải thiện đáng kể khối lượng cơ nạc hay ngăn mất mật độ xương theo thời gian [6]. Việc áp dụng một chế độ ăn không thể thay thế cho các biện pháp phòng chống té ngã vật lý hoặc các loại thuốc điều trị loãng xương chuyên biệt.
Một hiểu lầm khác là càng ăn nhiều trái cây hay cắt giảm hoàn toàn sữa theo lối ăn tự biên dịch thì càng tốt cho xương. Nghiên cứu đoàn hệ tại Pháp đã chỉ ra rằng tiêu thụ quá nhiều trái cây có thể liên quan tới tăng nguy cơ gãy xương hông, và việc nạp quá ít các chế phẩm từ sữa làm tăng gấp đôi nguy cơ gãy xương cổ tay [5]. Do đó, việc áp dụng sai lệch, thiếu cân đối có thể gây tác động tiêu cực đến bộ khung xương.
Ai nên thận trọng khi thay đổi chế độ ăn?
Người cao tuổi có bệnh nền như suy thận, đái tháo đường hoặc bệnh tiêu hóa cần thận trọng trước khi thay đổi thực đơn đột ngột. Việc tăng quá nhiều rau quả hoặc các loại hạt có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa hoặc khả năng tiêu hóa. Bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông máu hoặc các thuốc tim mạch cũng cần lưu ý khi thay đổi lượng chất béo và thực phẩm giàu vitamin. Luôn hỏi ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng khi có bệnh nền hoặc đang sử dụng thuốc điều trị để đảm bảo kế hoạch dinh dưỡng phù hợp.
Gợi ý áp dụng chế độ ăn hợp lý cho người lớn tuổi
Để tận dụng các lợi ích dinh dưỡng cho sức khỏe toàn diện và giảm thiểu rủi ro cho xương, người lớn tuổi có thể cân nhắc các điều chỉnh sau:
- Dầu thực vật: Ưu tiên dùng dầu ô liu nguyên chất thay thế cho các loại mỡ động vật hoặc dầu tinh luyện thông thường, sử dụng trong các món trộn hoặc xào nhẹ nhiệt độ thấp [4, 8].
- Cân bằng nhóm sữa: Không nên cắt bỏ hoàn toàn các chế phẩm từ sữa; duy trì lượng sữa chua, phô mai hoặc sữa phù hợp để tránh nguy cơ gãy xương chi do thiếu hụt canxi [3, 8].
- Tăng cường đạm và chất xơ hợp lý: Bổ sung đậu, hạt, ngũ cốc nguyên hạt và cá béo đều đặn trong tuần, giữ lượng trái cây ở mức vừa phải thay vì tiêu thụ quá mức [3, 8].
- Hạn chế thịt đỏ: Giảm bớt lượng thịt đỏ và thịt chế biến sẵn trong bữa ăn hàng ngày [3].
Chế độ ăn Địa Trung Hải mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe tim mạch và có thể góp phần hỗ trợ giảm nhẹ nguy cơ gãy xương hông ở người lớn tuổi [1, 2]. Tuy nhiên, chế độ ăn không phải phương thuốc kỳ diệu giúp ngăn chặn hoàn toàn gãy xương hay té ngã [1, 7]. Một lối sống cân bằng, kết hợp dinh dưỡng đầy đủ nhóm chất và vận động an toàn là chìa khóa duy trì hệ xương khớp dẻo dai.






