Làm việc ca đêm đảo lộn nhịp sinh học tự nhiên. Nhiều người lao động tìm đến trà tâm sen như giải pháp cứu cánh để tìm lại giấc ngủ ban ngày. Thói quen hãm tâm sen uống thay nước lọc mỗi ngày khá phổ biến vì niềm tin thảo dược tự nhiên hoàn toàn vô hại.

Tuy nhiên, tâm sen chứa nhiều hoạt chất sinh học mạnh tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương và hệ tim mạch [1], [2]. Việc sử dụng tâm sen trị mất ngủ có cơ sở khoa học, nhưng đi kèm các tác động hạ huyết áp, giảm lực co bóp cơ tim và hạ thân nhiệt [1], [2]. Người làm ca đêm cần hiểu rõ đặc tính của các hoạt chất này để dùng an toàn, tránh nguy cơ mệt mỏi quá mức hoặc biến cố tim mạch.

Thành phần alkaloid tạo nên dược tính của tâm sen

Tâm sen (phôi của hạt sen, tên khoa học Nelumbo nucifera) từ lâu được dùng làm thực phẩm và vị thuốc trong y học cổ truyền [3], [2]. Giá trị dược lý của tâm sen đến từ nhóm hợp chất hữu cơ có tên là alkaloid, đặc biệt là nhóm bisbenzylisoquinoline alkaloid và benzylisoquinoline alkaloid [4], [5].

Một nghiên cứu năm 2011 đã phân lập từ phôi hạt sen ba loại bisbenzylisoquinoline alkaloid mới gồm nelumboferine, nelumborine A và B, cùng bốn hợp chất đã biết là neferine, liensinine, isoliensinine và anisic acid [4]. Đến năm 2013, các nhà khoa học tiếp tục tổng hợp chọn lọc lập thể và đánh giá hoạt tính dược lý của nelumboferine, các đồng phân lập thể của neferine, liensinine, isoliensinine và O-methylneferine [6]. Trong số này, neferine được xác định là alkaloid chính của phôi hạt sen [6], [2].

Phân tích sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC-UV) trong một nghiên cứu năm 2022 cho thấy con số cụ thể về tỷ lệ các chất này [3]. Khi chiết xuất tổng lượng alkaloid từ phôi hạt sen với độ tinh khiết đạt 95,6%, thành phần chủ yếu gồm ba chất: neferine chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,57%, tiếp theo là isoliensinine chiếm 28,02% và liensinine chiếm 23,01% [3]. Chính sự hiện diện đậm đặc của các alkaloid này, dẫn đầu là neferine, quyết định cả tác dụng hỗ trợ giấc ngủ lẫn các tác động lên tim và mạch máu của tâm sen [1], [2].

Cơ chế giúp an thần và ngủ ngon của hoạt chất neferine

Người làm ca đêm thường rơi vào trạng thái thần kinh căng thẳng, khó đi vào giấc ngủ dù cơ thể rã rời. Hoạt chất neferine trong tâm sen giải quyết vấn đề này thông qua tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương [1], [2].

Một nghiên cứu công bố năm 2008 trên mô hình chuột đã làm rõ cách thức tâm sen gây ngủ [1]. Các nhà khoa học thử nghiệm dịch chiết methanol (MeOH) từ phôi hạt sen và nhận thấy dịch chiết này ức chế đáng kể hoạt động vận động của chuột [1]. Khi phân tách dịch chiết này lần lượt với nước và các dung môi khác gồm n-hexane, chloroform (CHCl3) và n-butanol (n-BuOH), chỉ có phân đoạn chiết bằng chloroform thể hiện tác dụng ức chế mạnh hoạt động vận động, còn các phân đoạn khác không có tác dụng [1].

Hợp chất chính trong phân đoạn chloroform chính là neferine [1]. Thực nghiệm chứng minh neferine ức chế hoạt động vận động của chuột theo cách phụ thuộc vào liều lượng: liều càng cao, mức độ ức chế vận động càng mạnh [1]. Đặc biệt, neferine làm tăng thời gian ngủ do thuốc gây mê thiopental tạo ra và thể hiện rõ tác dụng giảm lo âu trong thử nghiệm mê cung chữ thập nâng cao (elevated plus maze test) [1]. Một tổng quan dược lý năm 2021 cũng xác nhận neferine có hiệu quả trong điều trị chứng ngủ ít (hyposomnia) và giảm lo âu [2].

Điểm đáng chú ý là cơ chế gây ngủ của neferine trong tâm sen khác biệt rõ rệt với thuốc an thần tân dược như diazepam [1]. Trong nghiên cứu năm 2008, cả neferine và diazepam đều làm giảm vận động, hạ nhiệt độ trực tràng (gây hạ thân nhiệt) và kéo dài giấc ngủ trên chuột [1]. Tuy nhiên, khi kiểm tra bằng bài test trục quay (rota-rod test), neferine không làm ảnh hưởng đến khả năng phối hợp cơ bắp của chuột [1]. Neferine cũng không tác động lên các cơn co giật do strychnine hoặc picrotoxin gây ra [1]. Ngược lại, thuốc diazepam gây giãn cơ rõ rệt và có tác dụng chống co giật [1]. Điều này cho thấy neferine tham gia vào hiệu quả an thần của tâm sen nhưng theo một cơ chế riêng biệt, không giống với cơ chế của diazepam [1].

Lưu ý tác động lên huyết áp, nhịp tim và thân nhiệt

Dù không gây giãn cơ như thuốc ngủ tân dược, các alkaloid trong tâm sen lại có tác động mạnh lên hệ thống tim mạch và điều hòa thân nhiệt [1], [2]. Đây là phần "độc tính" hoặc tác dụng bất lợi nếu dùng sai đối tượng hoặc quá liều mà người làm ca đêm cần đặc biệt cảnh giác.

Tổng quan nghiên cứu năm 2021 chỉ rõ hoạt chất chính neferine tác động trực tiếp lên cơ tim [2]. Cụ thể, neferine có các đặc tính dược lý gồm: hạ huyết áp (anti-hypertensive), chống loạn nhịp tim (anti-arrhythmic), chống kết tập tiểu cầu (anti-platelet), chống huyết khối (anti-thrombotic) và làm giảm lực co bóp cơ tim (negative inotropic) [2].

Tác dụng giảm lực co bóp cơ tim (negative inotropic) nghĩa là làm tim đập với lực yếu hơn, kết hợp với tác dụng hạ huyết áp sẽ giúp ích cho người đang bị tăng huyết áp hoặc nhịp tim nhanh [2]. Tuy nhiên, với người có huyết áp thấp hoặc chức năng tim suy yếu, việc nạp lượng lớn neferine từ tâm sen sẽ khiến huyết áp tụt sâu hơn và tim co bóp yếu đi [2]. Ngoài ra, khả năng chống kết tập tiểu cầu và chống huyết khối của neferine có thể ảnh hưởng đến quá trình đông máu tự nhiên của cơ thể [2].

Bên cạnh vấn đề tim mạch, nghiên cứu năm 2008 chỉ ra neferine gây hạ thân nhiệt (hypothermia) trên chuột thí nghiệm, tương tự hiệu ứng giảm nhiệt độ trực tràng của diazepam [1]. Trong y học, đặc tính này lý giải vì sao neferine có hiệu quả trong điều trị chứng sốt cao [2]. Nhưng đối với người khỏe mạnh hoặc người có thể trạng hàn (hay lạnh bụng, tay chân lạnh) sau ca trực đêm mệt mỏi, tác dụng hạ thân nhiệt này có thể gây cảm giác ớn lạnh, mệt lả.

Các tác dụng sinh học khác được ghi nhận từ nghiên cứu

Ngoài tác dụng trên giấc ngủ và tim mạch, các nghiên cứu phòng thí nghiệm còn ghi nhận nhiều hoạt tính khác của alkaloid tâm sen trên tế bào thần kinh, chuyển hóa mỡ và chống oxy hóa [7], [5], [3].

Về bảo vệ thần kinh, nghiên cứu năm 2022 đánh giá tác dụng của tổng lượng alkaloid phôi hạt sen (TASENN) trên chuột biến đổi gen APP/PS1 (mô hình bệnh Alzheimer) và tế bào thần kinh PC12 bị tổn thương bởi protein amyloid-beta (Abeta) [3]. Chuột được uống TASENN liều 50 mg/kg mỗi ngày trong 28 ngày đã cải thiện chức năng học tập và trí nhớ, giảm tổn thương mô bệnh học ở vỏ não và vùng đồi thị, đồng thời ức chế sự chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào thần kinh [3]. Hoạt chất này làm giảm quá trình phosphoryl hóa protein Tau, giảm hình thành các đám rối tơ thần kinh (NFTs), giảm biểu hiện protein APP và BACE1, giảm lắng đọng Abeta và ức chế sự tăng sinh của tế bào vi giao (microglia) [3]. Trên tế bào PC12 bị gây hại bởi Abeta25-35, TASENN giúp tăng tỷ lệ sống của tế bào, giảm lượng canxi tự do (Ca2+) trong bào tương và giảm biểu hiện các protein CaM, p-CaMKII [3].

Về chống oxy hóa, một nghiên cứu khác đã phân lập 7 hợp chất benzylisoquinoline alkaloid (gồm 3 chất mới đánh số 1-3 và 4 chất đã biết đánh số 4-7) từ phôi hạt sen [5]. Cả 7 hợp chất này đều ngăn chặn quá trình peroxy hóa lipid do ion sắt (Fe2+) gây ra trong microsome gan chuột [5]. Tỷ lệ ức chế quá trình oxy hóa này đạt mức cao, lần lượt là 76,1%, 75,7%, 60,0%, 82,9%, 75,5%, 83,8% và 85,3% [5].

Về chuyển hóa mỡ, một nghiên cứu mới công bố năm 2024 đã phân lập 6 alkaloid mới và 6 alkaloid đã biết từ phôi hạt sen [7]. Khi thử nghiệm trên tế bào tiền mỡ 3T3-L1, 11 alkaloid trong số này thể hiện khả năng ức chế tích tụ lipid (mỡ) theo cách phụ thuộc vào liều lượng [7]. Cơ chế đạt được là nhờ các alkaloid này làm giảm biểu hiện của thụ thể PPARgamma (một thụ thể chủ chốt điều hòa sinh mỡ) [7]. Các alkaloid có cấu hình không gian dạng 1R,1'S cho thấy hiệu quả chống tạo mỡ tăng lên đáng kể [7]. Tổng quan năm 2021 cũng ghi nhận neferine có tác dụng trên bệnh béo phì, tiểu đường, kháng viêm, bệnh thận và hỗ trợ hóa trị ung thư (tăng độ nhạy của tế bào ung thư với thuốc doxorubicin, cisplatin, taxol thông qua việc thúc đẩy chết tế bào theo chương trình, tự thực và bắt giữ chu kỳ tế bào) [2].

Dù kết quả rất đa dạng, độc giả cần lưu ý toàn bộ các số liệu về bảo vệ não, chống oxy hóa gan hay giảm mỡ nêu trên mới chỉ dừng lại ở mức độ thử nghiệm trong ống nghiệm (in vitro) và trên động vật (in vivo trên chuột) [1], [7], [5], [3], [2]. Người dùng không nên lấy các kết quả này để tự ý dùng tâm sen điều trị bệnh lý tại nhà.

Hiểu lầm thường gặp khi dùng tâm sen của người thức đêm

Hiểu lầm lớn nhất là coi tâm sen như một loại trà giải khát thông thường, uống càng đặc thì ngủ càng nhanh. Như nghiên cứu năm 2008 đã chỉ ra, neferine ức chế hoạt động vận động theo liều lượng [1]. Dùng liều quá cao không chỉ gây ức chế thần kinh mạnh mà còn làm tăng nguy cơ hạ thân nhiệt, hạ huyết áp và giảm sức co bóp của cơ tim [1], [2].

Hiểu lầm thứ hai là dùng tâm sen để bù đắp hoàn toàn cho việc thiếu ngủ mà bỏ qua vệ sinh giấc ngủ. Hoạt chất trong tâm sen giúp giảm lo âu và hỗ trợ đi vào giấc ngủ [1], [2], nhưng không thể thay thế nhịp sinh học tự nhiên. Nếu người làm ca đêm vừa uống trà tâm sen vừa tiếp xúc ánh sáng xanh điện thoại hoặc uống cà phê cuối ca trực, hiệu quả an thần sẽ bị triệt tiêu.

Ai nên thận trọng khi sử dụng tâm sen?

Dựa trên các đặc tính dược lý đã được chứng minh của neferine, các nhóm đối tượng sau cần đặc biệt thận trọng [1], [2]:

Người có huyết áp thấp: Do neferine có tác dụng hạ huyết áp, người có tiền sử huyết áp thấp uống tâm sen dễ bị hoa mắt, chóng mặt, tụt huyết áp [2].

Người có bệnh lý tim mạch hoặc đang dùng thuốc tim mạch: Neferine có tác dụng chống loạn nhịp và làm giảm lực co bóp cơ tim [2]. Người bị suy tim, nhịp tim chậm hoặc đang dùng thuốc điều trị tim mạch, thuốc hạ áp cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng để tránh tương tác cộng gộp làm tim đập quá yếu hoặc huyết áp tụt nguy hiểm.

Người rối loạn đông máu hoặc đang dùng thuốc chống đông: Vì neferine có hoạt tính chống kết tập tiểu cầu và chống huyết khối, việc dùng chung với các thuốc làm loãng máu cần có sự giám sát y tế [2].

Người đang bị hạ thân nhiệt, sốt rét hoặc thể trạng suy nhược, hay lạnh: Tác dụng làm giảm nhiệt độ cơ thể của neferine có thể làm trầm trọng thêm cảm giác lạnh [1]. Phụ nữ mang thai, đang cho con bú và người có bệnh nền gan, thận cũng không nên tự ý sử dụng khi chưa tham khảo ý kiến nhân viên y tế.

Cách áp dụng thực tế cho người làm ca đêm

Để tận dụng lợi ích giảm lo âu, hỗ trợ giấc ngủ của tâm sen mà vẫn bảo vệ an toàn cho tim mạch, người làm ca đêm nên tuân thủ nguyên tắc dùng đúng thời điểm và vừa đủ. Chỉ nên dùng một lượng nhỏ tâm sen pha trà ấm uống trước giờ dự định đi ngủ (sau khi kết thúc ca đêm về nhà) khoảng 30 đến 60 phút. Không hãm tâm sen quá đặc để uống thay nước lọc suốt cả ngày lẫn đêm.

Khi bắt đầu sử dụng, hãy lắng nghe phản ứng của cơ thể. Nếu sau khi uống thấy xuất hiện cảm giác hồi hộp, tim đập hẫng, chóng mặt do tụt huyết áp hoặc lạnh run người, cần ngưng sử dụng ngay [1], [2]. Để giấc ngủ ban ngày sau ca đêm đạt chất lượng tốt, người lao động nên kết hợp đóng rèm cản sáng hoàn toàn, giữ phòng ngủ yên tĩnh, ăn nhẹ dễ tiêu trước khi ngủ và duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng, uống đủ nước lọc trong ca làm việc.

Tâm sen là vị thuốc quý chứa hàm lượng cao các alkaloid như neferine, liensinine và isoliensinine giúp giảm lo âu và hỗ trợ giấc ngủ hiệu quả [1], [3], [2]. Tuy nhiên, hoạt chất neferine cũng đồng thời làm hạ huyết áp, giảm lực co bóp cơ tim và hạ thân nhiệt [1], [2]. Người làm ca đêm chỉ nên dùng tâm sen với lượng vừa phải trong thời gian ngắn và cần tham khảo ý kiến bác sĩ nếu có sẵn bệnh nền tim mạch hoặc huyết áp.