Lời đồn dân gian về bài thuốc tẩy giun
Trong kho tàng kinh nghiệm dân gian, nhiều loài cây cỏ mọc hoang quanh nhà hay trên đồi núi thường được truyền miệng là phương thuốc trị giun sán hữu hiệu. Cây guột găng (tên khoa học Blechnum orientale L., thuộc họ Blechnaceae) là một trong những loài thực vật như vậy. Không ít người tìm hái thân rễ của loài dương xỉ này sắc nước uống với hy vọng làm sạch đường ruột mà không cần đến thuốc tây.
Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học hiện nay cho thấy guột găng chỉ mới được ghi nhận về mặt kinh nghiệm sử dụng truyền thống [1]. Hoàn toàn chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào xác minh trực tiếp khả năng tẩy giun, cơ chế tác động hay khoảng liều an toàn của loài cây này trên cơ thể người.
Cơ sở của niềm tin truyền thống
Cây guột găng từ lâu đã xuất hiện trong nền y học dân gian của nhiều quốc gia. Các bài thuốc cổ truyền tại Ấn Độ, Trung Quốc hay Chile thường sử dụng các bộ phận như lá lược, thân rễ, chồi non và rễ dưới dạng thuốc sắc, thuốc đắp, dịch ép hoặc trà thuốc [1].
Trong số các loài thuộc chi Blechnum, Blechnum orientale là loài được sử dụng phổ biến nhất [1]. Các tài liệu tổng kết y học cổ truyền ghi nhận phần thân rễ của loài dương xỉ này từng được dùng như một phương pháp dân gian hỗ trợ các vấn đề nhiễm giun đường ruột, thương hàn và nhiễm trùng bàng quang [1].
Mặc dù được lưu truyền qua nhiều thế hệ, việc ghi chép lại thói quen sử dụng trong các y văn cổ truyền không đồng nghĩa với việc dược liệu này đã được kiểm chứng về mặt dược lý hiện đại [1]. Đây chỉ là cơ sở lịch sử ghi nhận thực hành bản địa, chưa thể coi là bằng chứng khoa học khẳng định công dụng trị ký sinh trùng.
Khoa học hiện đại đã nghiên cứu gì về guột găng?
Trái ngược với niềm tin dân gian về tác dụng trừ giun sán, các nghiên cứu sinh học hiện đại về guột găng chủ yếu tập trung vào đặc tính chống oxy hóa, kháng khuẩn và làm lành vết thương ngoài da.
Một nghiên cứu công bố năm 2009 so sánh dịch chiết lá của năm loài dương xỉ làm thuốc, bao gồm Acrostichum aureum, Asplenium nidus, Blechnum orientale, Cibotium barometz và Dicranopteris linearis [2]. Kết quả phân tích cho thấy B. orientale sở hữu hàm lượng polyphenol tổng cao nhất và thể hiện tiềm năng mạnh nhất trong việc quét gốc tự do DPPH, khử sắt, chống tẩy màu beta-carotene và tạo phức ion sắt [2]. Cây cũng cho thấy hoạt tính kháng khuẩn rõ rệt trong phòng thí nghiệm [2].
Đến năm 2010, một nghiên cứu khác khảo sát năm phân đoạn dung môi từ dịch chiết methanol của lá Blechnum orientale [3]. Phân tích hóa thực vật chỉ ra sự hiện diện của flavonoid, terpenoid và tannin, trong đó phân đoạn ethyl acetate và butanol có hàm lượng phenolic tổng rất cao (675-804 mg gallic acid equivalent/g) [3]. Các phân đoạn này thể hiện hoạt tính khử gốc tự do mạnh với IC50 từ 8,6 đến 13,0 microgam/ml [3].
Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2010 này còn phát hiện dịch chiết có hoạt tính gây độc tế bào trên dòng ung thư đại tràng người HT-29 với IC50 khoảng 27,5 đến 42,8 microgam/ml [3]. Về khả năng diệt khuẩn, dịch chiết ức chế các vi khuẩn Gram dương gồm Bacillus cereus, Micrococcus luteus, Staphylococcus aureus nhạy methicillin (MSSA), Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) và Staphylococcus epidermidis với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) dao động từ 15,6 đến 250 microgam/ml [3].
Năm 2011, một nghiên cứu trên chuột cống trắng Sprague-Dawley được thiết kế để đánh giá khả năng làm lành vết thương hở ngoài da của dịch chiết nước từ lá Blechnum orientale ở nồng độ 1% và 2% [4]. Chuột được chia nhóm đối chứng dùng kem nền và nhóm can thiệp dùng dung dịch povidone-iodine 10% [4]. Kết quả cho thấy nhóm thoa dịch chiết 2% có sự thu nhỏ diện tích vết thương rõ rệt, rút ngắn thời gian biểu mô hóa, đồng thời tăng tổng hợp collagen, tăng sinh tế bào nguyên bào sợi và kích thích hình thành mạch máu mới [4].
Tiếp tục hướng nghiên cứu này, một thử nghiệm công bố năm 2016 đã tinh chế phân đoạn tannin từ dịch chiết lá B. orientale để tạo dạng gel hydrogel bôi điều trị loét tiểu đường trên chuột [5]. Phân đoạn tannin này cho hoạt tính kháng khuẩn diệt tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) ở nồng độ 0,25 mg/ml [5]. Dạng hydrogel chứa 4% hoạt chất giúp vết thương tiểu đường đóng miệng trung bình vào ngày thứ 12, nhanh hơn so với mốc 14 ngày hoặc không lành ở nhóm chứng [5].
Lỗ hổng bằng chứng về hiệu lực trừ giun
Qua hàng loạt thực nghiệm kể trên, có thể thấy các nhà khoa học chỉ ghi nhận được hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn bề mặt, độc tế bào ung thư và phục hồi mô da của cây guột găng [2, 5, 6, 7]. Tuyệt đối chưa có bất kỳ thử nghiệm in vitro (trong ống nghiệm) nào đặt giun sán tiếp xúc với dịch chiết guột găng để đo lường mức độ tê liệt hay tỷ lệ tử vong của ký sinh trùng.
Tương tự, y văn hiện đại cũng hoàn toàn thiếu vắng các thử nghiệm in vivo (trên động vật sống) kiểm tra khả năng giảm số lượng trứng giun hay thải loại giun trưởng thành từ loài cây này. Điều này hoàn toàn khác biệt với các loại thảo dược khác từng được chứng minh hiệu quả trừ giun rõ rệt qua các mô hình chuột nhiễm ký sinh trùng trong phòng thí nghiệm.
Chính vì không có dữ liệu thực nghiệm, khoảng liều an toàn của thân rễ guột găng dùng qua đường uống vẫn là một ẩn số lớn. Dân gian thường dùng ước lượng theo nắm lá hoặc khúc rễ đun nấu tùy tiện, tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cao do không thể kiểm soát hàm lượng hoạt chất.
Hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược tẩy giun
Nhiều người mặc định thảo dược tự nhiên thì luôn an toàn, lành tính hơn thuốc tổng hợp hóa học. Đây là quan niệm sai lầm, bởi cây cỏ chứa hỗn hợp rất nhiều hợp chất hóa học tự nhiên chưa qua tinh chế, trong đó có cả những chất gây kích ứng đường tiêu hóa mạnh, ảnh hưởng đến gan hoặc thận nếu dung nạp quá liều.
Một ngộ nhận khác là đánh đồng công dụng kháng khuẩn với khả năng diệt giun sán. Các dữ liệu cho thấy guột găng kháng lại vi khuẩn tụ cầu hoặc trực khuẩn [2, 6], nhưng cấu tạo sinh học của giun sán là động vật đa bào phức tạp, hoàn toàn khác biệt với vi khuẩn đơn bào. Một dược chất diệt được vi khuẩn không đồng nghĩa có thể tiêu diệt được ký sinh trùng đường ruột.
Ngoài ra, việc dùng nước sắc cây thuốc có thể chỉ tạm thời kích thích nhu động ruột gây tiêu chảy nhẹ khiến người bệnh ngộ nhận là giun sán đã bị tống xuất, trong khi mầm bệnh thực tế vẫn bám chắc vào niêm mạc ruột.
Ai nên thận trọng với bài thuốc này?
Do thiếu hụt hoàn toàn các nghiên cứu độc tính đường uống và khoảng liều trị liệu, việc tự ý đào rễ guột găng để sắc uống tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho sức khỏe. Dịch chiết của loài cây này đã được chứng minh có hoạt tính gây độc tế bào trong môi trường nuôi cấy [3], do đó không thể chủ quan với tác động của nó lên các mô nội tạng.
Những đối tượng tuyệt đối không được tự ý sử dụng gồm phụ nữ có thai và phụ nữ đang cho con bú, do các y văn cổ truyền từng ghi nhận một số loài trong chi Blechnum liên quan đến tác dụng ngừa thai hoặc gây co bóp [1]. Trẻ em và người cao tuổi có hệ tiêu hóa non nớt hoặc chức năng suy giảm cũng không nên thử nghiệm các bài thuốc chưa được chuẩn hóa liều.
Những người có tiền sử mắc các bệnh lý mạn tính về gan, suy thận hoặc đang dùng các thuốc chuyển hóa qua gan cần tránh xa các loại nước sắc lá, rễ tự hái này vì nguy cơ tương tác dược chất và gia tăng độc tính là rất khó lường.
Lời khuyên áp dụng thực tế
Hiện nay, y học hiện đại đã phát triển các loại thuốc tẩy giun định kỳ đường uống với cơ chế tác động rõ ràng, hiệu lực cao và đã được chứng minh độ an toàn trên diện rộng. Khi có các dấu hiệu nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng như đau bụng quanh rốn, rối loạn tiêu hóa, ngứa hậu môn hoặc sụt cân, người dân cần đến cơ sở y tế để xét nghiệm phân hoặc làm chẩn đoán chuyên khoa thay vì tự tìm kiếm các bài thuốc dân gian truyền miệng.
Để phòng ngừa giun sán hiệu quả, biện pháp căn bản nhất vẫn là ăn chín uống sôi, rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, vệ sinh môi trường sống sạch sẽ. Cây guột găng hiện chỉ cho thấy tiềm năng ứng dụng ngoài da trong các nghiên cứu thử nghiệm về hỗ trợ vết thương [5, 7], người dân không nên tự ý thu hái thân rễ để uống chữa bệnh. Khi có bất kỳ vấn đề nào về sức khỏe, hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn phác đồ điều trị an toàn và chuẩn xác nhất.










