Ngồi làm việc nhiều giờ mỗi ngày với bàn phím và chuột máy tính khiến nhiều nhân viên văn phòng gặp tình trạng tê mỏi bàn tay, đau nhức cổ tay. Không ít người lo lắng liệu thói quen dùng chuột liên tục có phải là thủ phạm trực tiếp gây ra hội chứng ống cổ tay và khi nào triệu chứng tê tay trở nên đáng báo động cần phải đi khám bác sĩ.

Thực tế, các dữ liệu khoa học cho thấy việc dùng máy tính và chuột quá mức có thể là một yếu tố nguy cơ nghề nghiệp nhỏ đối với hội chứng ống cổ tay, đặc biệt khi xét riêng trong nhóm nhân viên văn phòng [1]. Thao tác di chuột và kéo thả làm tăng áp lực bên trong ống cổ tay lên mức có thể ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng dây thần kinh giữa [2]. Người dùng máy tính cần đi khám sớm để thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán điện thần kinh khi có dấu hiệu bất thường hoặc triệu chứng nặng dần, bởi các bất thường dẫn truyền thần kinh rất dai dẳng ngay cả khi triệu chứng bên ngoài lúc có lúc không [3], [4].

Cơ chế chèn ép dây thần kinh giữa khi dùng chuột

Hội chứng ống cổ tay là bệnh lý chèn ép dây thần kinh giữa khi dây thần kinh này đi qua cấu trúc ống cổ tay [5]. Đây được xem là bệnh lý chèn ép thần kinh phổ biến nhất, với tỷ lệ mắc trong cộng đồng nói chung dao động từ 3,0% đến 5,8% ở nữ giới và từ 0,6% đến 2,1% ở nam giới dựa trên cả triệu chứng lâm sàng lẫn đo dẫn truyền thần kinh [5].

Nguyên nhân chính gây ra hội chứng này được cho là do sự gia tăng áp lực bên trong ống cổ tay [5]. Sự xuất hiện của tình trạng phù nề quanh dây thần kinh và chèn ép thần kinh tại cổ tay phản ánh việc áp lực ống cổ tay đang tăng lên [4]. Áp lực này có thể gia tăng khi cổ tay duy trì tư thế gập hoặc duỗi liên tục kéo dài, dẫn đến việc các cử động lặp đi lặp lại làm chèn ép dây thần kinh giữa [4].

Khi sử dụng chuột máy tính, tư thế cổ tay không ở trạng thái trung tính cùng với lực tì đè từ bên ngoài làm tăng áp lực ống cổ tay [6]. Sự gia tăng áp lực dịch kéo dài bên trong ống cổ tay đóng vai trò trong cơ chế sinh bệnh của hội chứng này [2]. Trong quá trình thực hiện thao tác chuột thực tế, áp lực ống cổ tay có thể tăng lên đến những mức độ tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho dây thần kinh [5].

Thao tác chuột và thời gian làm việc tác động thế nào: Bằng chứng từ nghiên cứu

Một nghiên cứu công bố năm 1999 đã đo trực tiếp áp lực ống cổ tay ở 14 người khỏe mạnh khi thực hiện các tác vụ với 3 loại chuột máy tính khác nhau [2]. Người tham gia thực hiện thao tác kéo thả đa hướng bắt đầu từ tư thế đặt tay nghỉ tĩnh trên chuột, và thực hiện thêm thao tác trỏ - nhấp chuột trên một loại chuột [2]. Kết quả cho thấy áp lực ống cổ tay khi thực hiện tác vụ kéo thả và trỏ - nhấp cao hơn đáng kể so với khi chỉ đặt tay nghỉ tĩnh trên chuột [2].

Cụ thể, áp lực trung bình trong lúc kéo thả chuột dao động từ 28,8 đến 33,1 mmHg, cao hơn khoảng 12 mmHg so với tư thế nghỉ tĩnh [2]. Áp lực khi kéo thả chuột cũng cao hơn so với khi trỏ và nhấp chuột (33,1 mmHg so với 28,0 mmHg) [2]. Ở nhiều người tham gia, mức áp lực đo được trong lúc dùng chuột đã vượt quá ngưỡng áp lực vốn được biết là làm thay đổi chức năng và cấu trúc dây thần kinh, cho thấy công việc đòi hỏi dùng chuột cường độ cao trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ tổn thương đơn dây thần kinh giữa [2].

Về mối liên hệ dịch tễ học, một phân tích gộp công bố năm 2015 đã đánh giá 12 nghiên cứu để làm rõ liệu việc dùng máy tính có gây ra hội chứng ống cổ tay hay không [1]. Khi gộp 6 nghiên cứu với 4.964 người để so sánh người dùng máy tính với dân số chung hoặc các ngành nghề khác, việc dùng máy tính hoặc máy chữ lại có mối liên hệ nghịch với hội chứng ống cổ tay (tỷ số chênh OR gộp là 0,72; dùng từ 1 giờ/ngày trở lên có OR là 0,63; dùng từ 4 giờ/ngày trở lên có OR là 0,68) [1]. Tuy nhiên, lý do là các nghiên cứu này đã không kiểm soát các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp nặng nhọc khác ở nhóm dân số chung [1].

Khi phân tích gộp 6 nghiên cứu khác thực hiện riêng trên 5.202 nhân viên văn phòng (nhóm đối chứng phù hợp hơn là nhân viên văn phòng ít hoặc không dùng máy tính), kết quả đã đảo ngược [1]. Hội chứng ống cổ tay có mối liên hệ thuận với việc dùng máy tính/máy chữ (OR gộp = 1,34), dùng chuột (OR = 1,93), dùng máy tính thường xuyên (OR = 1,89), dùng chuột thường xuyên (OR = 1,84) và số năm làm việc với máy tính dài so với ngắn (OR = 1,92) [1].

Bên cạnh đó, một nghiên cứu trên 190 người làm việc với máy tính đã được chẩn đoán mắc hội chứng ống cổ tay (gồm 100 nam và 90 nữ, độ tuổi từ 20 đến 65) đã đánh giá mức độ biểu hiện lâm sàng qua Bộ câu hỏi ống cổ tay Boston (BCTQ), đo chẩn đoán điện thần kinh (EDX) và dữ liệu mất khả năng lao động [3]. Nghiên cứu tìm thấy mối tương quan chặt chẽ giữa mức độ triệu chứng, kết quả chẩn đoán điện và tình trạng mất khả năng lao động với số tháng làm việc cùng máy tính, số giờ dùng máy tính mỗi ngày, cũng như điều kiện công thái học và vi khí hậu tại nơi làm việc [3].

Giới hạn của bằng chứng khoa học hiện tại

Mặc dù ghi nhận sự gia tăng áp lực khi dùng chuột, bằng chứng dịch tễ học khẳng định công việc máy tính trực tiếp gây ra hội chứng ống cổ tay vẫn còn những giới hạn nhất định [5]. Một tổng quan hệ thống năm 2008 xem xét 8 nghiên cứu dịch tễ học và 3 nghiên cứu dọc về công việc lặp lại lực nhẹ đã kết luận chưa có đủ bằng chứng dịch tễ để khẳng định làm việc máy tính gây ra bệnh này [5]. Cả 8 nghiên cứu đều có hạn chế như đánh giá mức độ tiếp xúc và kết quả chưa chính xác, lực thống kê thấp hoặc có sai số tiềm ẩn; 3 nghiên cứu thấy mối liên hệ liều lượng - đáp ứng nhưng không thể kết luận chắc chắn do nguy cơ phân loại sai, trong khi 3 nghiên cứu khác lại cho thấy mức nguy cơ dưới 1 [5].

Một đánh giá năm 2007 và một nghiên cứu năm 2011 về bệnh nghề nghiệp cũng chỉ ra rằng gõ bàn phím máy tính dường như không làm tăng nguy cơ mắc hội chứng ống cổ tay, hoặc tỷ lệ mắc ở người dùng máy tính đã giảm nhiều nhờ cải thiện các thông số công thái học tại bàn làm việc [7], [8]. Các tổn thương nghề nghiệp gây hại rõ rệt cho dây thần kinh giữa thường đến từ công việc thủ công lặp đi lặp lại đòi hỏi gập duỗi cổ tay, nắm chặt bằng lực mạnh, kẹp giữ vật, hoặc tiếp xúc với dụng cụ cầm tay có độ rung (như chế biến thịt, lắp ráp, đóng gói hàng hóa, thu ngân siêu thị) [7], [8]. Khi kết hợp các yếu tố phơi nhiễm nặng này, nguy cơ mắc bệnh sẽ tăng lên theo cấp số cộng hưởng [8].

Do đó, phân tích gộp năm 2015 nhìn nhận việc dùng máy tính quá mức, đặc biệt là dùng chuột, chỉ đóng vai trò là một yếu tố nguy cơ nghề nghiệp nhỏ [1]. Giới khoa học vẫn cần thêm các nghiên cứu tiến cứu trên nhân viên văn phòng có đo lường khách quan thời gian dùng chuột, bàn phím và xác nhận chẩn đoán bằng đo dẫn truyền thần kinh, cũng như làm rõ tác động lâu dài của việc tăng áp lực ống cổ tay lặp đi lặp lại [1], [5], [3].

Hiểu lầm thường gặp về chuột công thái học và triệu chứng bệnh

Hiểu lầm phổ biến đầu tiên của dân văn phòng là chỉ cần mua chuột dọc (vertical mouse) hoặc đệm kê tay gel công thái học là sẽ giảm được áp lực lên ống cổ tay. Một nghiên cứu công bố năm 2015 đã kiểm tra trực tiếp giả thuyết này trên 21 bệnh nhân mắc hội chứng ống cổ tay [6]. Các nhà nghiên cứu đo áp lực ống cổ tay trước, trong và sau khi thực hiện tác vụ chuột trên 4 thiết bị: chuột tiêu chuẩn, chuột dọc, tấm lót chuột có đệm gel và đệm trượt đỡ lòng bàn tay [6].

Kết quả cho thấy áp lực ống cổ tay đều tăng lên trong lúc vận hành chuột ở tất cả các thiết bị [6]. Mặc dù chuột dọc giúp giảm đáng kể độ lệch trụ của cổ tay, còn đệm lót chuột gel và đệm trượt đỡ lòng bàn tay giúp giảm độ duỗi cổ tay, nhưng không có thiết bị công thái học nào làm giảm được áp lực bên trong ống cổ tay [6]. Vì vậy, nghiên cứu không đưa ra khuyến nghị mạnh mẽ ủng hộ hay phản đối bất kỳ thiết bị nào, và việc chọn thiết bị công thái học hoàn toàn phụ thuộc vào sở thích cá nhân của người dùng [6].

Hiểu lầm thứ hai là thấy triệu chứng tê đau tạm thời thuyên giảm thì cho rằng dây thần kinh đã tự hồi phục. Các nghiên cứu về rối loạn cơ xương khớp liên quan đến công việc ở người dùng máy tính ghi nhận hơn 50% người dùng báo cáo xuất hiện triệu chứng ở bàn tay và cánh tay trong vòng 1 năm đầu nhận việc mới, và từ 64% đến 73% trong số người có triệu chứng đã được chẩn đoán xác nhận mắc rối loạn cơ xương khớp liên quan đến công việc [4].

Đáng chú ý, dữ liệu theo dõi của Myers được trích dẫn trong báo cáo năm 2013 cho thấy: ở từng bàn tay riêng lẻ, các bất thường về dẫn truyền thần kinh có xu hướng tồn tại rất dai dẳng, với 82% trường hợp duy trì bất thường suốt 11 năm, bất chấp việc các triệu chứng lâm sàng dao động mạnh (chỉ có 13% duy trì triệu chứng liên tục trong 11 năm) [4]. Đồng thời, có mối tương quan tuyến tính thuận, chặt chẽ giữa mức độ nặng ban đầu của triệu chứng với sự chậm dẫn truyền thần kinh và sự phát triển thành hội chứng ống cổ tay sau đó [4].

Dấu hiệu cần đi khám và nhóm đối tượng nên thận trọng

Vì triệu chứng cảm giác có thể dao động thất thường trong khi tổn thương dẫn truyền thần kinh vẫn âm thầm tồn tại suốt 11 năm ở 82% trường hợp [4], người dùng máy tính không nên đợi đến khi mất cảm giác hoàn toàn mới đi khám. Người bệnh cần đến cơ sở y tế thăm khám ngay khi xuất hiện các triệu chứng trong năm đầu làm việc với máy tính hoặc khi triệu chứng ảnh hưởng đến chức năng bàn tay và năng suất lao động [3], [4].

Tại bệnh viện, việc đánh giá không chỉ dựa vào cảm giác chủ quan qua thang điểm mức độ nặng triệu chứng (SSS) và thang điểm trạng thái chức năng (FSS), mà cần được kiểm tra khách quan các suy giảm thần kinh bằng kỹ thuật chẩn đoán điện (EDX) và đo dẫn truyền thần kinh (NCT) [5], [3]. Việc xác định sớm mức độ chậm dẫn truyền thần kinh giúp can thiệp kịp thời, ngăn ngừa bệnh tiến triển nặng gây suy giảm chức năng bàn tay và mất khả năng lao động [3], [4].

Những nhóm đối tượng sau đây cần đặc biệt thận trọng vì mang sẵn các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc hoặc làm nặng thêm hội chứng ống cổ tay:

  • Phụ nữ (tỷ lệ mắc ở nữ là 3,0-5,8% so với 0,6-2,1% ở nam giới) và người có thay đổi nội tiết tố trong thời kỳ mang thai hoặc mãn kinh [7], [5].
  • Người có kích thước ống cổ tay hẹp bẩm sinh hoặc có tổn thương sau chấn thương tại vùng cổ tay [7].
  • Người mắc các bệnh lý nền gồm: viêm khớp dạng thấp, suy giáp, đái tháo đường, béo phì và tăng cholesterol máu [7].
  • Người có thói quen sinh hoạt kém lành mạnh như hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia, chế độ dinh dưỡng kém và ít hoạt động thể chất [7], [3].

Cách áp dụng thực tế để bảo vệ cổ tay khi dùng máy tính

Mặc dù các thiết bị kê tay hay chuột dọc không trực tiếp làm giảm áp lực nội tại trong ống cổ tay khi thao tác [6], người làm việc văn phòng vẫn có thể chủ động giảm thiểu nguy cơ chèn ép dây thần kinh giữa thông qua việc điều chỉnh thao tác và lối sống dựa trên khuyến nghị từ các nghiên cứu.

Thứ nhất, cần thay đổi thói quen thao tác với chuột máy tính. Nghiên cứu đo áp lực ống cổ tay khuyến cáo người dùng nên giảm thiểu tối đa tư thế duỗi cổ tay, hạn chế các tác vụ kéo thả chuột (drag and drop) kéo dài liên tục vì thao tác này đẩy áp lực ống cổ tay lên mức 28,8-33,1 mmHg [2]. Thay vì đặt tay giữ chuột liên tục, hãy thường xuyên dùng bàn tay cầm chuột để thực hiện các công việc khác nhằm giải phóng cổ tay khỏi tư thế cố định và lực tì đè [2], [6].

Thứ hai, kiểm soát thời lượng làm việc và yếu tố công thái học. Thời gian làm việc tính theo giờ mỗi ngày và số tháng làm việc với máy tính có tương quan chặt chẽ với độ nặng của bệnh [3]. Do đó, cần sắp xếp thời gian nghỉ giải lao hợp lý, điều chỉnh điều kiện công thái học và môi trường vi khí hậu tại góc làm việc để giảm gánh nặng cho chi trên [7], [3]. Việc chọn chuột dọc hay đệm gel có thể tùy thuộc vào cảm giác thoải mái cá nhân để hỗ trợ giữ cổ tay bớt lệch trụ hoặc bớt duỗi quá mức [6].

Thứ ba, cải thiện các yếu tố lối sống ngoài công việc. Duy trì chế độ ăn uống cân bằng, kiểm soát cân nặng và tình trạng dinh dưỡng, tăng cường hoạt động thể chất, đồng thời bỏ thuốc lá và hạn chế uống rượu bia là những biện pháp dự phòng và điều chỉnh có thể giúp cải thiện tình trạng bệnh cũng như giảm nguy cơ mất khả năng lao động [3].

Nhìn chung, sử dụng chuột máy tính cường độ cao và kéo dài có thể làm tăng áp lực ống cổ tay và là một yếu tố nguy cơ nghề nghiệp nhỏ gây chèn ép dây thần kinh giữa [1], [2]. Người làm việc văn phòng nên chủ động hạn chế thao tác kéo thả chuột liên tục, kết hợp vận động đa dạng cho bàn tay và duy trì lối sống lành mạnh [2], [3]. Nếu xuất hiện các dấu hiệu tê đau bàn tay hoặc suy giảm chức năng cầm nắm, đặc biệt ở người có bệnh nền như đái tháo đường hay viêm khớp, hãy đi khám bác sĩ chuyên khoa để được đo dẫn truyền thần kinh và tư vấn hướng xử trí phù hợp [7], [3].