Nhiều người mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 thường loại bỏ hoàn toàn bơ đậu phộng khỏi thực đơn vì lo ngại hàm lượng chất béo cao gây tăng đường huyết hoặc tăng cân. Việc kiểm soát chế độ ăn khắt khe khiến người bệnh luôn phải đắn đo trước món ăn thơm béo và quen thuộc này. Liệu đây có phải là thực phẩm cấm kỵ đối với người có vấn đề về đường huyết hay không?
Câu trả lời là người bệnh tiểu đường tuýp 2 hoàn toàn có thể ăn bơ đậu phộng nếu sử dụng đúng liều lượng và đúng cách. Các bằng chứng khoa học cho thấy bơ đậu phộng không làm bùng phát đường huyết mà còn hỗ trợ làm chậm quá trình hấp thu carbohydrate, cải thiện phản ứng insulin và hỗ trợ kiểm soát cảm giác thèm ăn.
Cơ chế giúp bơ đậu phộng điều hòa đường huyết và insulin
Khả năng kiểm soát đường huyết của bơ đậu phộng đến từ thành phần dinh dưỡng gồm chất béo chưa bão hòa, chất xơ và protein. Lượng chất béo tự nhiên trong các sản phẩm từ đậu phộng có tác dụng làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày [1]. Khi thức ăn rời khỏi dạ dày chậm hơn, tốc độ hấp thu glucose vào vòng tuần hoàn máu sẽ giảm đi, từ đó làm giảm phản ứng tiết insulin ồ ạt [1].
Bên cạnh đó, đậu phộng sở hữu nồng độ chất xơ dồi dào, đóng vai trò như các prebiotic tự nhiên [1]. Thành phần chất xơ này giúp làm giảm chỉ số đường huyết (GI) cũng như tải lượng đường huyết (GL) tổng thể của toàn bộ bữa ăn [1]. Đậu phộng khi đi vào đường tiêu hóa còn mang lại cảm giác no lâu hơn cho người sử dụng [1]. Khi dùng đậu phộng như một bữa phụ, hiệu quả bù trừ năng lượng diễn ra tốt hơn so với khi ăn kèm trong bữa chính [1]. Việc sử dụng đều đặn các sản phẩm từ đậu phộng cũng góp phần thay thế các món ăn vặt nhiều đường hoặc thực phẩm chế biến sẵn có hại [1].
Bằng chứng kiểm soát đường huyết qua các thử nghiệm can thiệp
Tác động làm chậm hấp thu glucose của bơ đậu phộng đã được kiểm chứng qua nhiều nghiên cứu can thiệp lâm sàng trên người. Điển hình là một thử nghiệm can thiệp công bố năm 2019 nhằm đánh giá hiệu quả của bơ đậu phộng khi bổ sung vào bữa ăn có chỉ số đường huyết cao [2]. Nghiên cứu tiến hành trên 16 người trưởng thành khỏe mạnh ở độ tuổi trung bình 24,1 tuổi, trải qua 8 đến 12 giờ nhịn ăn qua đêm [2].
Trong ngày đối chứng, người tham gia tiêu thụ bữa sáng gồm 2 lát bánh mì trắng và 250 mL nước ép táo, tương đương 60 g carbohydrate [2]. Vào ngày can thiệp, khẩu phần được bổ sung thêm 32 g (khoảng 2 thìa canh) bơ đậu phộng [2]. Kết quả cho thấy mức tăng vọt đường huyết ở ngày có bơ đậu phộng thấp hơn đáng kể so với ngày đối chứng, cụ thể là 35,8 ± 16,4 mg/dL so với 51,0 ± 20,8 mg/dL [2]. Đường huyết sau ăn tại các thời điểm 15, 30 và 60 phút ở nhóm ăn bơ đậu phộng đều thấp hơn rõ rệt [2].
Tác động tích cực này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu chéo ngẫu nhiên năm 2013 trên 15 phụ nữ béo phì có nguy cơ cao mắc tiểu đường tuýp 2 [3]. Các đối tượng được chia thành các nhóm dùng bữa sáng chứa 75 g carbohydrate kết hợp với 42,5 g đậu phộng nguyên hạt bỏ vỏ, 42,5 g bơ đậu phộng hoặc bữa ăn đối chứng không có đậu phộng [3]. Các chỉ số chuyển hóa được theo dõi liên tục trong suốt 490 phút, bao gồm cả khoảng thời gian sau bữa trưa tiêu chuẩn [3].
Kết quả cho thấy diện tích dưới đường cong gia tăng (IAUC) của nồng độ axit béo tự do (NEFA) từ 0 đến 240 phút và IAUC của glucose trong giai đoạn 240 đến 490 phút ở nhóm dùng bơ đậu phộng thấp hơn hẳn so với bữa sáng đối chứng [3]. Nồng độ insulin ở nhóm dùng bơ đậu phộng duy trì ở mức cao hơn tại phút 120 và phút 370 [3]. Đáng chú ý, cảm giác thèm ăn ở nhóm dùng bơ đậu phộng giảm rõ rệt, đi kèm sự gia tăng nồng độ các hormone tạo cảm giác no từ đường ruột như PYY, GLP-1 và CCK [3]. Đậu phộng nguyên hạt cũng mang lại xu hướng tương tự nhưng không đạt mức ý nghĩa thống kê [3].
Dạng chế biến của đậu phộng ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ hấp thu đường. Một thử nghiệm chéo ngẫu nhiên năm 2011 trên 13 người khỏe mạnh (4 nam, 9 nữ; tuổi trung bình 28,5; BMI 22,7 kg/m2) đã so sánh các dạng đậu phộng khác nhau sau 10-12 giờ nhịn ăn [4]. Kết quả ghi nhận diện tích dưới đường cong đáp ứng đường huyết của nhóm dùng đậu phộng rang xay nhuyễn bỏ vỏ thấp hơn đáng kể so với nhóm dùng đậu phộng sống nguyên vỏ [4]. Các dạng chế biến này không làm thay đổi lượng năng lượng, chất dinh dưỡng đa lượng hay lượng chất xơ nạp vào trong 24 giờ tiếp theo [4].
Ngay cả trong các nghiên cứu sớm hơn vào năm 1986 trên nam giới khỏe mạnh, việc sử dụng các bữa ăn nhẹ chứa 25 g carbohydrate hoặc 265 kcal như bánh mì kẹp bơ đậu phộng dùng kèm sữa socola hay kẹo bơ đậu phộng đều tạo ra nồng độ glucose huyết tương tại phút 30 và phút 60 thấp hơn so với thử nghiệm nạp glucose thông thường [5]. Phản ứng insulin giữa các món ăn nhẹ này ghi nhận mức biến thiên đỉnh gấp 2 lần, và không có trường hợp hạ đường huyết lâm sàng nào xảy ra [5].
Bằng chứng dịch tễ học về nguy cơ mắc tiểu đường tuýp 2
Bên cạnh các thử nghiệm cấp tính, các số liệu dịch tễ học quy mô lớn cũng tìm hiểu mối liên hệ lâu dài giữa thói quen ăn bơ đậu phộng và nguy cơ khởi phát bệnh. Phân tích từ nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu Nurses' Health Study theo dõi trên phụ nữ cho thấy những người tiêu thụ bơ đậu phộng từ 5 lần trở lên mỗi tuần có tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường giảm 21% [1].
Một nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2021 tổng hợp dữ liệu từ 8 công trình (gồm 5 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu và 3 nghiên cứu cắt ngang) để làm rõ mối liên quan giữa các loại hạt với bệnh tiểu đường tuýp 2 [6]. Kết quả gộp từ các nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu khẳng định việc tiêu thụ bơ đậu phộng có mối liên hệ nghịch với tỷ lệ mắc tiểu đường tuýp 2, với tỷ số nguy cơ RR đạt 0,87 [6]. Trái lại, việc ăn hạt cây hay đậu phộng nguyên hạt lại không cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê [6].
Dù vậy, phân tích gộp này ghi nhận không có bằng chứng về mối quan hệ đáp ứng theo liều tuyến tính hoặc phi tuyến tính giữa lượng tiêu thụ và nguy cơ mắc bệnh [6]. Độ tin cậy của bằng chứng theo hệ thống NutriGrade chỉ ở mức rất thấp [6]. Do đó, các kết luận dịch tễ học mang tính gợi mở mối tương quan bảo vệ chứ chưa thể xem là quan hệ nhân quả tuyệt đối.
Tác động của axit oleic và vỏ lụa đậu phộng ở cấp độ phân tử
Lợi ích chuyển hóa của bơ đậu phộng còn được giải thích thông qua các thành phần hoạt tính sinh học bên trong. Nghiên cứu thực nghiệm năm 2009 ghi nhận hàm lượng axit oleic chiếm tỷ lệ cao trong các sản phẩm dầu đậu phộng [7]. Khi thử nghiệm trên chuột mắc tiểu đường tuýp 2 được cho dùng 0,70 mL dầu đậu phộng mỗi ngày (tương đương 18 g/kg thể trọng) trong 3 tuần, mức đường huyết lúc đói đã giảm mạnh từ mức trên 15,0 mM xuống còn 8,3 ± 3,7 mM [7].
Ngược lại, chuột mắc tiểu đường tuýp 1 không ghi nhận sự thay đổi đường huyết đáng kể khi dùng dầu đậu phộng, với chỉ số duy trì ở mức 27 ± 6 mM [7]. Ở nhóm chuột không nhận dầu can thiệp, đường huyết lúc đói của cả chuột tuýp 1 (29 ± 4 mM) và tuýp 2 (24 ± 10 mM) đều ở mức rất cao sau 21 ngày [7]. Trên mô hình tế bào INS-1 nhạy cảm với glucose, axit oleic thể hiện đặc tính chống tiểu đường và kháng viêm bằng cách kích thích tiết insulin [7]. Điểm nổi bật là axit oleic vẫn duy trì khả năng thúc đẩy tiết insulin ngay cả khi có mặt cytokine gây viêm TNF-alpha, một chất trung gian gây ức chế sản xuất insulin liên quan trực tiếp đến cơ chế sinh bệnh tiểu đường tuýp 2 [7].
Ngoài phần thịt hạt, vỏ lụa của hạt đậu phộng cũng chứa các hợp chất phenolic chống tăng đường huyết [8]. Một nghiên cứu năm 2019 thử nghiệm trên tế bào HepG2 cho thấy chiết xuất vỏ đậu phộng giúp giảm thiểu tình trạng suy giảm khả năng sống của tế bào gan khi tiếp xúc với môi trường glucose cao [8]. Trong thử nghiệm dung nạp glucose đường uống trên 15 người tham gia, việc phối hợp chiết xuất vỏ lụa đậu phộng cùng dung dịch glucose 50 g giúp hạ thấp đỉnh đường huyết tại thời điểm 45 phút so với đối chứng [8].
Những hiểu lầm thường gặp của người tiểu đường về bơ đậu phộng
Hiểu lầm phổ biến nhất là ăn bơ đậu phộng sẽ gây tăng cân mất kiểm soát do lượng chất béo lớn, từ đó làm bệnh tiểu đường trầm trọng hơn. Tuy nhiên, sự hấp thu chất béo từ đậu phộng trong cơ thể người là không hoàn toàn [1]. Nghiên cứu chỉ ra rằng cấu trúc thành tế bào hạt đậu phộng hoạt động như một rào cản vật lý cản trở men lipase, khiến lượng mỡ và năng lượng đào thải qua phân tăng lên, đặc biệt khi nhai không kỹ [1]. Mặc dù bơ đậu phộng có sinh khả dụng lipid cao hơn hạt nguyên do quá trình xay nghiền phá vỡ thành tế bào, lượng chất béo này chủ yếu là axit oleic có lợi cho chuyển hóa [1], [7].
Một hiểu lầm khác là bơ đậu phộng làm tăng huyết áp ở bệnh nhân tim mạch và tiểu đường. Tổng hợp từ ba nghiên cứu can thiệp đánh giá huyết áp sau khi bổ sung đậu phộng đều không ghi nhận bất kỳ sự khác biệt nào so với nhóm đối chứng [1].
Hiểu lầm thứ ba là mọi loại bơ đậu phộng trên thị trường đều có tác dụng như nhau. Bơ đậu phộng công nghiệp thường bị thêm đường mía, si-rô ngô hoặc chất béo chuyển hóa để tăng hương vị và kéo dài hạn sử dụng. Các chất phụ gia này hoàn toàn có thể triệt tiêu lợi ích hạ đường huyết và làm đường huyết tăng cao sau ăn.
Ai nên thận trọng khi sử dụng bơ đậu phộng?
Dù đem lại nhiều tác động tích cực, bơ đậu phộng không phải là thực phẩm phù hợp cho tất cả mọi người. Người có tiền sử dị ứng với đậu phộng tuyệt đối không được sử dụng để tránh sốc phản vệ nguy hiểm tính mạng.
Người mắc tiểu đường tuýp 1 không nhận được lợi ích hạ đường huyết từ các axit béo trong đậu phộng giống như tiểu đường tuýp 2, như đã được chứng minh trên mô hình động vật [7]. Người bệnh tiểu đường đang thừa cân hoặc có bệnh thận mạn tính đi kèm cần kiểm soát chặt chẽ lượng tiêu thụ để tránh gây dư thừa calo hoặc quá tải khoáng chất. Người đang sử dụng thuốc hạ đường huyết cần theo dõi chỉ số máu định kỳ khi thay đổi chế độ ăn nhằm tránh nguy cơ biến động đường huyết ngoài ý muốn.
Cách áp dụng bơ đậu phộng vào thực đơn hàng ngày
Để tận dụng tối đa lợi ích của bơ đậu phộng trong việc kiểm soát đường huyết, người bệnh có thể áp dụng các hướng dẫn thực hành sau:
- Lựa chọn sản phẩm: Ưu tiên bơ đậu phộng nguyên chất 100%, thành phần chỉ gồm đậu phộng rang xay, không thêm đường, muối hay dầu hydro hóa.
- Khẩu phần khuyến nghị: Dựa trên các nghiên cứu lâm sàng, mức sử dụng khoảng 20 g mỗi ngày (tương đương 0,3 g/kg thể trọng ở người 65 kg) hoặc khoảng 32 g (2 thìa canh) khi kết hợp với bữa ăn giàu carbohydrate đem lại hiệu quả làm giảm đỉnh đường huyết rõ rệt [7], [2].
- Thời điểm và cách kết hợp: Nên dùng bơ đậu phộng vào bữa sáng hoặc các bữa ăn phụ [1], [3]. Phết 1-2 thìa bơ đậu phộng ăn kèm bánh mì nguyên cám, yến mạch hoặc dùng kèm các loại trái cây ít ngọt như táo sẽ giúp làm chậm tốc độ gia tăng đường huyết sau ăn [2].
- Thay thế thông minh: Sử dụng bơ đậu phộng như một món ăn vặt lành mạnh để thay thế hoàn toàn các loại bánh ngọt, snack chế biến sẵn giàu tinh bột tinh chế [1].
Bơ đậu phộng là một nguồn bổ sung dinh dưỡng an toàn và có lợi cho người bệnh tiểu đường tuýp 2 nhờ khả năng ổn định đáp ứng đường huyết và hỗ trợ tiết insulin [1], [7], [2]. Dù vậy, người bệnh chỉ nên sử dụng như một phần của chế độ dinh dưỡng cân bằng, có kiểm soát khẩu phần và cần tham khảo ý kiến chuyên gia y tế khi điều chỉnh khẩu phần ăn thường ngày.




