Nhiễm trùng da và mô mềm là vấn đề y khoa phổ biến, gây tổn thất lớn về kinh tế và y tế [1]. Trong dân gian, nhiều nơi truyền miệng dùng lá cây ba soi (tên khoa học Macaranga denticulata) để rửa vết thương, chữa đinh nhọt [2]. Tuy nhiên, liệu loài cây này có thực sự tiêu diệt được vi khuẩn gây bệnh ngoài da hay chỉ là lời đồn?
Dữ liệu khoa học hiện nay cho thấy: Chưa có bằng chứng nào chứng minh cao chiết ba soi trực tiếp tiêu diệt vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) hay vi khuẩn gây nhiễm trùng da [1, 2, 5]. Tác dụng giảm sưng đau ngoài da của loài cây này thực tế bắt nguồn từ hoạt tính chống viêm, ức chế enzyme gây đau và chống oxy hóa chứ không phải từ khả năng kháng khuẩn [2, 5].
Bệnh nhiễm trùng da: Thủ phạm là ai?
Nhiễm khuẩn da và cấu trúc da cấp tính tạo gánh nặng lâm sàng nghiêm trọng [1]. Thống kê tại Mỹ cho thấy tỷ lệ khám ngoại trú vì nhiễm trùng da đã tăng từ 32,1 lên 48,1 lượt trên 1000 dân (tăng 50%, tương đương 14,2 triệu lượt khám năm 2005) [1]. Tỷ lệ nhập viện liên quan đến bệnh lý này cũng tăng từ 1,6% tổng số ca nhập viện năm 2005 lên 2,0% vào năm 2011 [1].
Thủ phạm vi sinh hàng đầu gây nhiễm trùng da là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) và liên cầu khuẩn (Streptococcus pyogenes) [1, 3]. Ngoài ra, các vi khuẩn gram âm như Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli hay Serratia marcescens cũng có thể gây loét da, áp xe khó điều trị do kháng thuốc [1, 4, 6].
Cây ba soi: Dân gian dùng thế nào?
Cây ba soi, tên khoa học Macaranga denticulata, thuộc chi Macaranga, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) [2, 5]. Chi thực vật này có gần 300 loài, phân bố chủ yếu tại châu Á, Malaysia và Indonesia [2, 5].
Theo y học cổ truyền, lá tươi hoặc lá khô của cây ba soi thường được giã nát đắp ngoài da để trị vết đứt, vết bầm tím, sưng tấy, mụn nhọt và lở loét [2]. Tại Malaysia, nước sắc từ rễ của loài cùng chi M. tanarius dùng hạ sốt, giảm ho; lá dùng làm lành vết thương, giảm viêm [3]. Việc vết sưng xẹp xuống sau khi đắp lá khiến nhiều người nhầm tưởng rằng lá ba soi có công năng sát trùng, diệt vi khuẩn.
Khoa học giải mã cơ chế: Giảm viêm và giảm đau
Các nghiên cứu sinh hóa hiện đại chứng minh rằng tác dụng làm dịu tổn thương của ba soi đến từ hoạt tính ức chế viêm và giảm đau trung ương, không phải từ cơ chế kháng khuẩn [2, 5].
Phân tích thành phần hóa thực vật trong dịch chiết methanol của lá ba soi phát hiện sự hiện diện của các nhóm hoạt chất gồm: alkaloid, carbohydrate, phenol, flavonoid, tannin và terpenoid [2]. Cây cũng chứa nhiều flavonoid dạng prenylated và stilbene [2]. Các chất này có tác dụng dọn gốc tự do, giảm quá trình peroxy hóa màng tế bào và ức chế các enzyme truyền tín hiệu viêm [2, 5].
Các nghiên cứu công bố nói gì về hoạt tính sinh học của ba soi?
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về Macaranga denticulata chỉ tập trung vào khả năng chống oxy hóa, giảm viêm, giảm đau và ức chế tế bào ung thư [2, 5, 8]:
Nghiên cứu về khả năng chống oxy hóa và kháng viêm (2013): Các nhà khoa học sàng lọc dịch chiết methanol từ vỏ và lá của ba loài Macaranga (M. denticulata, M. pruinosa, M. gigantea) [3]. Vỏ cây ba soi cho thấy hàm lượng phenolic tổng cao nhất, đạt 2682 mg đương lượng axit gallic (GAE)/100 g, cùng hoạt tính dọn gốc tự do với giá trị IC50 là 0,063 mg/mL [3]. Vỏ cây ba soi còn ức chế hơn 50% enzym tyrosinase (đạt 68,7%), ức chế enzyme acetylcholinesterase đạt 73,82% (lá ức chế 54,50%) và ức chế sản sinh oxit nitric (NO) trong tế bào tới 81,79% [3]. Sự ức chế NO giải thích tại sao thảo dược này làm giảm tình trạng sưng đỏ ngoài mô [3].
Nghiên cứu giảm đau in vivo và in silico (2017): Nghiên cứu trên chuột dùng mô hình gây đau bằng axit axetic và formalin [2]. Cao chiết methanol lá ba soi ở liều 200 mg/kg và 400 mg/kg làm giảm cơn quặn đau và hành vi liếm bàn chân ở chuột một cách phụ thuộc vào liều, có ý nghĩa thống kê [2]. Phân tích gắn kết phân tử mô phỏng cho thấy hợp chất macarangin trong ba soi đạt điểm tương thích -5,81 với enzym COX-1, chứng minh cơ chế giảm đau rõ ràng [2].
Nghiên cứu phân lập hợp chất chống khối u (2022): Các nhà nghiên cứu phân lập được 10 prenylated flavonoid mới (đặt tên từ denticulain A đến J) cùng 7 hợp chất đã biết từ ba soi [4]. Trong đó, denticulain A và hợp chất 14 ức chế dòng tế bào SW620 và HCT-116 với IC50 lần lượt là 46,08 µM và 56,83 µM [4].
Không có bất kỳ thử nghiệm nào trong các công trình trên cho thấy cao chiết thô ba soi có nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trên vi khuẩn tụ cầu vàng (S. aureus) hay các chủng gây mủ da [1, 2, 5, 8].
Hiểu lầm tai hại: Nhầm giảm đau thành khỏi nhiễm trùng
Nhiều người lầm tưởng khi đắp lá ba soi thấy vết thương bớt nhức, bớt tấy đỏ nghĩa là vi khuẩn đã bị tiêu diệt [2]. Thực tế, các hoạt chất trong lá chỉ đang ức chế thụ thể gây đau và kìm hãm phản ứng viêm tại chỗ [2, 5]. Vi khuẩn bên dưới bề mặt da vẫn tiếp tục nhân lên [1, 3].
Việc tự ý hái lá cây đắp trực tiếp lên vùng da có mủ, trầy xước còn làm tăng nguy cơ bội nhiễm các vi khuẩn cơ hội nguy hiểm như Serratia marcescens – loại trực khuẩn gram âm gây loét hoại tử, áp xe chân khó trị và kháng nhiều kháng sinh thông thường như ampicillin hay cephalosporin [4, 6].
Ai nên thận trọng?
Người có vết thương hở sâu, vết rách da do vật bẩn đâm vào, vết cắn của động vật tuyệt đối không tự điều trị bằng thảo dược chưa tinh chế [5].
Bệnh nhân suy giảm miễn dịch, người cao tuổi, người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phải dùng corticosteroid kéo dài hoặc có hội chứng sau huyết khối tĩnh mạch cần đặc biệt cảnh giác [4, 6]. Những đối tượng này rất dễ bị hoại tử da lan rộng do các vi khuẩn gram âm cơ hội khi chăm sóc vết thương sai cách [4, 6].
Người bệnh nghi ngờ nhiễm trùng da nếu xuất hiện tổn thương loét nhanh, mụn mủ giống viêm da hoại thư mủ (pyoderma gangrenosum) cần đến bệnh viện cấy vi sinh tìm đúng căn nguyên thay vì tự đắp lá [6].
Xử trí nhiễm trùng da đúng cách theo y học
Nhiễm khuẩn bề mặt nhẹ cần được xử lý tại chỗ bằng các dung dịch sát trùng hoặc thuốc mỡ kháng sinh bôi ngoài da như mupirocin hoặc axit fusidic [5].
Khi nhiễm trùng lan rộng hoặc người bệnh có yếu tố nguy cơ, bác sĩ sẽ chỉ định kháng sinh toàn thân như penicillin, amoxicillin, amoxicillin-clavulanic acid hoặc cephalosporin thế hệ 1, thế hệ 2 [5]. Trong trường hợp kháng thuốc hoặc nhiễm tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA), các loại kháng sinh chuyên biệt như clindamycin, co-trimoxazole hay các thuốc mới như dalbavancin, tedizolid, oritavancin và delafloxacin mới được cân nhắc sử dụng [1, 3].
Lá ba soi chỉ nên được nhìn nhận như một nguồn thảo dược giàu chất chống oxy hóa và giảm đau tiềm năng trong các nghiên cứu phân lập dược chất tương lai [2, 5]. Người dân không tự ý giã đắp lá ba soi lên các ổ nhiễm trùng ngoài da; khi có dấu hiệu sưng đau, chảy mủ, cần thăm khám y tế để được chẩn đoán và dùng thuốc đúng chỉ định [3, 4].










