Nghẹt mũi, khó thở do thời tiết thay đổi hay cảm cúm là triệu chứng gây khó chịu hàng đầu trong đời sống thường ngày. Khi gặp tình trạng này, nhiều người thường tìm đến các loại thuốc xịt thông mũi tác dụng nhanh để tìm lại cảm giác thông thoáng tức thì chỉ sau vài phút. Tuy nhiên, việc lạm dụng các sản phẩm xịt co mạch này có thể dẫn đến hiện tượng nghẹt mũi ngược trở lại dữ dội hơn, hình thành bệnh lý viêm mũi do thuốc nguy hiểm.
Câu trả lời ngắn gọn cho thắc mắc của bạn là: Có, việc dùng thuốc xịt co mạch kéo dài hoàn toàn có thể gây nghẹt mũi ngược trở lại. Tình trạng này trong y khoa được gọi là viêm mũi do thuốc (rhinitis medicamentosa), xảy ra khi niêm mạc mũi bị tổn thương và mất phản xạ tự nhiên do phụ thuộc vào thuốc co mạch [1], [2].
Cơ chế tác động và hiện tượng dung nạp thuốc tại niêm mạc mũi
Các loại thuốc xịt thông mũi tức thì thường chứa các hoạt chất co mạch tại chỗ như oxymetazoline hoặc xylometazoline [3], [4]. Khi xịt vào hốc mũi, hoạt chất này kích thích các thụ thể khiến hệ thống mao mạch dưới niêm mạc co rút nhanh chóng, làm giảm thể tích cuốn mũi và mở rộng đường thở tức thì [1], [5]. Hiệu quả giảm nghẹt gần như diễn ra ngay lập tức, đem lại cảm giác dễ chịu rõ rệt cho người sử dụng [6].
Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc xịt co mạch quá mức sẽ tác động tiêu cực đến cấu trúc tế bào màng nhầy [2]. Quá trình lạm dụng liên tục làm suy giảm số lượng các thụ thể alpha-adrenoreceptor trên bề mặt màng tế bào, đồng thời tách rời liên kết của chúng với protein G [2]. Tình trạng này dẫn đến hiện tượng dung nạp nhanh (tachyphylaxis), khiến mạch máu giảm khả năng đáp ứng với cùng một mức liều lượng thuốc [2], [3].
Khi tác dụng co mạch của thuốc hết đi, hiện tượng giãn mạch và phù nề trong mạch máu mũi sẽ bùng phát trở lại [5]. Hậu quả là các yếu tố làm giãn mạch máu trong niêm mạc mũi được kích hoạt mạnh mẽ hơn, tạo ra đợt nghẹt mũi ngược trở lại với mức độ nặng nề hơn trước [7]. Người bệnh cảm thấy đường thở bị bít tắc nghiêm trọng hơn và có xu hướng tăng liều xịt hoặc xịt thường xuyên hơn để giải tỏa cảm giác bức bối, vô tình bước vào một vòng luẩn quẩn phụ thuộc thuốc nguy hiểm [5].
Bằng chứng khoa học về hiện tượng nghẹt mũi ngược trở lại
Hiện tượng sức cản mũi tăng vọt sau khi sử dụng thuốc co mạch đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu lâm sàng. Một nghiên cứu công bố năm 1999 đã theo dõi sự biến đổi tình trạng nghẹt mũi ở 92 trường hợp viêm mũi cấp và viêm mũi mạn tính sau khi sử dụng thuốc co mạch [7]. Trong nghiên cứu này, sức cản đường thở của mũi ở 39 bệnh nhân đã được đo lường chính xác bằng phương pháp đo phế dung khí áp mũi chủ động phía trước [7].
Kết quả cho thấy tỷ lệ bật lại sức cản mũi ở 4 nhóm bệnh nhân được điều tra lần lượt đạt mức 63,5%, 31,2%, 32,2% và 8,6% tùy theo tình trạng bệnh nền và loại thuốc co mạch được sử dụng [7]. Đồng thời, ở 3 nhóm bệnh nhân được đo đạc sức cản cụ thể, tỷ lệ xuất hiện hiện tượng bật lại sức cản mũi được ghi nhận ở các mức 50%, 20% và 75% [7]. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng thuốc co mạch thực sự có khả năng gây hiện tượng dội ngược sức cản mũi do sự kích hoạt của các yếu tố gây giãn mạch trong niêm mạc [7].
Ở cấp độ tế bào và mô học, một nghiên cứu thực nghiệm công bố năm 2021 đã đánh giá tác động của oxymetazoline trên mô hình 30 chuột Wistar-albino mắc viêm mũi do thuốc [1]. Sau khi tình trạng bệnh biểu hiện trên lâm sàng, các phân tích phân tử đường dẫn truyền chết tế bào trên toàn bộ mô phổi chuột cho thấy sự suy giảm có ý nghĩa thống kê của các chất chỉ điểm Atg5 (p=0,021), Atg7 (p=0,013) và Ulk1 (p=0,036) ở nhóm dùng oxymetazoline so với nhóm đối chứng [1]. Ngược lại, mức độ biểu hiện của enzym Caspase 3 tăng lên rõ rệt ở nhóm dùng oxymetazoline, trong khi Beclin1 tăng mạnh ở nhóm được can thiệp bằng hỗn dịch erdosteine liều 175 mg/5mL (p=0,001) [1]. Nghiên cứu chỉ ra rằng tình trạng co mạch mao mạch do oxymetazoline gây giảm tưới máu cục bộ, kích hoạt cơ chế tự thực (autophagy) nhằm duy trì cân bằng nội môi tế bào [1].
Bên cạnh đó, các biến đổi mô học thực sự ở người bệnh lạm dụng thuốc thông mũi kéo dài đã được tổng hợp trong y văn năm 2006 [8]. Tình trạng viêm mũi do thuốc gây ra hàng loạt tổn thương thực thể bao gồm mất lớp biểu mô lông chuyển của mũi, dị sản tế bào vảy, phù nề tế bào biểu mô, bong tróc biểu mô, tăng sản tế bào hình đài tiết nhầy, tăng thâm nhiễm tế bào viêm và gia tăng biểu hiện thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì [8].
Vai trò của chất bảo quản benzalkonium chloride trong bình xịt
Không chỉ hoạt chất co mạch đơn thuần, các chất phụ gia và bảo quản có trong dung dịch xịt mũi cũng đóng vai trò thúc đẩy phản ứng viêm [3], [5]. Một nghiên cứu công bố năm 1997 chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc xịt co mạch phối hợp hoạt chất cùng chất bảo quản benzalkonium chloride (BKC) gây tác dụng bất lợi kéo dài lên niêm mạc mũi [3].
Thông qua kỹ thuật đo thể tích mũi rhinostereometry, nghiên cứu phát hiện rằng chất bảo quản benzalkonium chloride có trong bình xịt oxymetazoline làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh viêm mũi do thuốc ở những người tình nguyện khỏe mạnh [3]. Đáng chú ý, việc sử dụng đơn độc dung dịch chứa benzalkonium chloride liên tục trong vòng 30 ngày đã gây ra hiện tượng sưng phù nề niêm mạc mũi ở nhóm đối tượng khỏe mạnh, khác biệt hoàn toàn so với nhóm dùng giả dược [3]. Do đó, sự hiện diện của chất bảo quản này góp phần làm trầm trọng thêm các phản ứng quá mẫn và tổn thương niêm mạc trong quá trình dùng thuốc [3], [5].
Nghiên cứu công bố năm 1996 cũng khẳng định việc sử dụng dài ngày các thuốc xịt chứa oxymetazoline và xylometazoline sẽ gây ra tình trạng sưng nề bật lại, hiện tượng dung nạp thuốc và tình trạng tăng phản ứng quá mức của niêm mạc mũi, bất kể thuốc có chứa hay không chứa chất bảo quản [4].
Góc nhìn đa chiều và giới hạn của các bằng chứng y khoa
Dù hiện tượng nghẹt mũi bật lại được ghi nhận rộng rãi, giới y khoa vẫn tồn tại những thảo luận đa chiều về mặt định nghĩa và cơ chế [6]. Một báo cáo đánh giá y văn toàn diện năm 2013 của hội đồng chuyên gia thuộc Hội Tai Mũi Họng Pháp (Societe Francaise d'ORL) đã phân tích dữ liệu về hiện tượng nghẹt mũi bật lại và viêm mũi do thuốc [6]. Báo cáo ghi nhận rằng các kết quả nghiên cứu hiện có còn mang tính bất đồng [6].
Cụ thể, một số tác giả ghi nhận tác động tiêu cực của thuốc co mạch lên niêm mạc, trong khi một số nghiên cứu khác lại không tìm thấy biến đổi đáng kể nào [6]. Hội đồng nhận định rằng chưa có nghiên cứu nào phân biệt rạch ròi được giữa các tổn thương viêm xuất phát từ bệnh viêm mũi xoang mạn tính sẵn có với các tổn thương thực sự do thuốc co mạch tại chỗ gây nên [6]. Dưới góc nhìn của hội đồng này, tình trạng nghẹt mũi tái diễn sau khi ngừng xịt thuốc có thể đơn thuần là do sự tái phát của bệnh lý viêm mũi xoang nền [6]. Tuy nhiên, hội đồng vẫn nhấn mạnh các loại thuốc co mạch tại chỗ rất dễ bị lạm dụng tự do ngoài tầm kiểm soát và cần được quản lý chặt chẽ [6].
Hơn nữa, một tổng quan y khoa năm 2006 chỉ ra rằng rất ít nghiên cứu tiến cứu quy mô lớn về bệnh viêm mũi do thuốc được tiến hành [8]. Phần lớn các hiểu biết hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên các báo cáo ca bệnh lâm sàng đơn lẻ và nghiên cứu mô bệnh học [8]. Mức liều tích lũy cụ thể hoặc khoảng thời gian chính xác để kích hoạt phản ứng viêm mũi do thuốc ở từng cá thể vẫn chưa được xác định một cách chắc chắn và đồng nhất [8].
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng thuốc xịt thông mũi
Nhiều người bệnh lầm tưởng rằng thuốc xịt thông mũi có thể dùng để điều trị dứt điểm mọi nguyên nhân gây ngạt mũi như cảm lạnh, viêm xoang hay viêm mũi dị ứng [6]. Trên thực tế, thuốc co mạch tại chỗ chỉ là biện pháp hỗ trợ giải phóng tạm thời đường thở, không có tác dụng loại bỏ căn nguyên gây bệnh [6], [5]. Việc lầm tưởng này khiến người bệnh dùng thuốc kéo dài liên tục nhiều tuần hoặc nhiều tháng [3], [5].
Một hiểu lầm phổ biến khác là cho rằng nghẹt mũi tăng lên sau khi ngưng xịt thuốc là dấu hiệu bệnh ban đầu chưa khỏi [6], [5]. Do thiếu thông tin, người bệnh thường tự ý tăng liều, xịt thuốc nhiều lần trong ngày hơn và duy trì thói quen tự điều trị [5]. Khi bước vào giai đoạn dung nạp thuốc, bệnh nhân gần như mất hẳn khả năng tự thở bình thường nếu không có sự can thiệp của bình xịt [2], [3].
Ngoài ra, ít người biết rằng hiện tượng nghẹt mũi do thuốc còn có thể bắt nguồn từ các thuốc dùng đường uống toàn thân [2], [8]. Tình trạng nghẹt mũi bất lợi có thể xuất hiện khi sử dụng các thuốc chẹn thụ thể beta đường uống, thuốc hạ huyết áp, thuốc chống loạn thần, thuốc tránh thai đường uống hoặc thuốc ức chế men phosphodiesterase týp 5 [2], [8]. Tương tự, hội chứng viêm mũi liên quan đến viêm cục bộ có thể xuất hiện do dùng axit acetylsalicylic (aspirin) hoặc các thuốc chống viêm không steroid (NSAID), điển hình là trong bệnh cảnh "tam chứng aspirin" kết hợp giữa hen phế quản, viêm mũi xoang (thường kèm polyp mũi) và không dung nạp aspirin [2].
Tác động tiêu cực và những đối tượng cần đặc biệt thận trọng
Viêm mũi do thuốc gây suy giảm nghiêm trọng đến chất lượng sống của người bệnh [2]. Các triệu chứng bít tắc đường thở triền miên dẫn đến ngạt mũi nặng nề, chảy nước mũi, gây ra hội chứng ngưng thở lúc ngủ thứ phát và mất ngủ kéo dài [2]. Sau những đêm mất ngủ vì không thở được bằng mũi, người bệnh thường rơi vào trạng thái đau đầu, cáu gắt, suy nhược và mệt mỏi thể chất nghiêm trọng [2].
Những người từng có tiền sử bị nghẹt mũi ngược trở lại là nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng [2], [3]. Khi các đối tượng này đã cai được thuốc xịt co mạch, họ phải hết sức cẩn thận trước quyết định tái sử dụng các thuốc này, kể cả chỉ dùng trong vài ngày ngắn ngủi [3]. Lý do là hiện tượng nghẹt mũi bật lại có nguy cơ bùng phát rất nhanh ở người có tiền sử lạm dụng, dễ đẩy họ trở lại vòng luẩn quẩn nghiện thuốc [3]. Với nhóm có tiền sử nghẹt mũi bật lại, thời gian điều trị bằng thuốc co mạch nếu có chỉ định bắt buộc phải giới hạn tối đa trong 3 ngày [2].
Bên cạnh đó, các bệnh nhân đang mắc bệnh lý viêm mũi xoang mạn tính, người có cơ địa mẫn cảm với chất bảo quản benzalkonium chloride hoặc người đang sử dụng các nhóm thuốc hạ áp, thuốc giãn mạch cũng cần có sự chỉ dẫn y tế chuyên biệt trước khi dùng các dung dịch nhỏ xịt mũi [2], [3], [5].
Nguyên tắc áp dụng thực tế và hướng dẫn xử trí an toàn
Để phòng ngừa hiện tượng nghẹt mũi dội ngược và viêm mũi do thuốc, nguyên tắc cốt lõi là giới hạn chặt chẽ tần suất và thời gian sử dụng thuốc co mạch tại chỗ [2]. Trong đa số trường hợp thông thường, thời gian sử dụng các loại thuốc co mạch chỉ nên giới hạn trong khoảng 5-7 ngày theo đúng tờ hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất [2]. Luôn sử dụng thuốc trong khoảng thời gian ngắn nhất cần thiết để giảm triệu chứng [8]. Thuốc co mạch tại chỗ vẫn được khuyến cáo phù hợp trong kiểm soát viêm mũi xoang cấp, thực hiện nội soi mũi hoặc chuẩn bị niêm mạc trước phẫu thuật nội soi mũi [6].
Khi đã xuất hiện dấu hiệu phụ thuộc thuốc hoặc viêm mũi do thuốc, bước điều trị đầu tay mang tính quyết định là ngừng ngay lập tức việc sử dụng thuốc xịt co mạch để niêm mạc mũi có cơ hội hồi phục [2], [8], [5]. Do quá trình dừng thuốc đột ngột có thể gây ngạt thở dữ dội, người bệnh có thể được chỉ định kết hợp sử dụng các loại thuốc xịt mũi chứa corticosteroid như budesonide hoặc fluticasone propionate để giảm sưng phù nề niêm mạc và hỗ trợ quá trình cai thuốc thuận lợi hơn [2], [3], [5]. Người bệnh cũng nên ưu tiên lựa chọn các sản phẩm không chứa chất bảo quản benzalkonium chloride nhằm hạn chế tối đa nguy cơ kích ứng niêm mạc mũi [5].
Sau khi đã ngắt được sự phụ thuộc vào thuốc co mạch, bệnh nhân cần được thăm khám chuyên khoa để giải quyết triệt để bệnh lý đường mũi nền tảng ban đầu [3], [5]. Trong những trường hợp bệnh diễn tiến quá nặng nề, các can thiệp ngoại khoa như thủ thuật laser dưới niêm mạc có thể được cân nhắc để tái tạo lại sự thông thoáng của đường thở [2].
Tóm lại, các thuốc xịt thông mũi tức thì đem lại hiệu quả giảm bít tắc đường thở nhanh chóng nhưng chỉ nên xem là biện pháp can thiệp tạm thời ngắn hạn [6]. Việc hiểu đúng về thời gian dùng tối đa từ 5-7 ngày và thận trọng trước hiện tượng nghẹt mũi bật lại sẽ giúp người bệnh bảo vệ an toàn cho niêm mạc mũi [2]. Khi tình trạng nghẹt mũi kéo dài dai dẳng, người bệnh không nên tự ý lạm dụng thuốc mà cần đến khám bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng để được tư vấn chẩn đoán và điều trị đúng nguyên nhân [2], [5].




